Nghiên cứu đóng góp các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Trị
Tăng trưởng kinh tế là quá trình biến đổi, tăng tiến toàn diện về mọi mặt của nền kinh tế, trong đó bao gồm cả sự lớn lên về quy mô sản lượng và tiến bộ, hoàn thiện về cơ cấu. Sự biến đổi cơ cấu và tăng lên về mặt số lượng là hai mặt không tách rời của quá trình phát triền. Nếu tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) phản ánh động thái tăng trưởng thì sự đóng góp các nhóm ngành kinh tế phản ánh chất lượng tăng trưởng. Về mặt lý thuyết, sự đóng góp các nhóm nganhfa kinh tế và việc chuyển dịch cơ cấu của một địa phương vừa phản ảnh bản chất của quá trình công nghiệp hóa, vừa là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế. Vậy đóng góp các nhóm ngành kinh tế là tiêu điểm của quá trình phát triển kinh tế.
Đế tài nghiên cứu được xây dựng từ 3 lý do sau đây:
Thứ nhất, từ vai trò của cơ cấu chuyển dịch nhóm ngành kinh tế và sự đóng góp các nhóm ngành kinh tế.
Xuất phát từ yêu cầu của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế cần được hiểu không chỉ là sự tăng lên về quy mô mà còn cả sự thay đổi cơ cấu kinh tế (CCKT) theo hướng tích cực. Sự đóng góp các nhóm ngành kinh tế phản ánh khả năng phát triển của xã hội, biểu hiện chính ở hai mặt sau: một là lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở lên sâu sắc; hai là sự phát triển của phân công lao động xã hội làm cho các mối quan hệ kinh tế thị trường ngày càng củng cố và phát triển. Sự thay đổi về chất lượng, số lượng của CCKT và mức độ đóng góp các nhóm ngành kinh tế, đặc biệt cơ cấu theo ngành kinh tế phản ánh khả năng phát triển của sức sản xuất xã hội. Một quốc gia có sự chuyển dịch CCKT hợp lý, thì sự đóng góp của các nhóm ngành kinh tế vào tăng trưởng GDP là rất quan trọng, nhằm thúc đẩy phát triền kinh tế bền vững và ngược lại, CCKT lạc hậu sẽ cản trở sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai, từ định hướng của Đảng và Nhà nước Quảng Trị về phát triển kinh tế và sự đóng góp của các nhóm ngành kinh tế.
Nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế tỉnh Quảng Trị để phù hợp với định hướng của Đảng – Nhà nước Việt Nam. Đại hôi Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI là bước phát triển đột phá đầu tiên về đổi mới tư duy của Đảng về phát triển kinh tế. Đó là việc xác lập, xây dựng cơ cấu kinh tế phù hợp với sự vận động của quy luật khách quan, trình độ của nền kinh tế. Tỉnh Quảng Trị đã nỗ lực phấn đấu để thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo đúng mục tiêu đã xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI là đến năm 2020, công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng 40,5%, dịch vụ chiếm 41%, nông nghiệp chiếm 18,5%; các vùng kinh tế của tỉnh phải tạo được sự chuyển biến rõ nét và dần thay đổi mức độ đóng góp các nhóm ngành kinh tế hợp lý theo hướng phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế để đem lại chất lượng, hiệu quả tăng trưởng cao và bền vững nhất.
Tỉnh Quảng Trị, công cuộc Đổi mới trong 20 năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế, đặc biệt là duy trì được nhịp tăng GRDP ở mức ổn định. Mức độ đóng góp các nhóm ngành kinh tế có sự chuyển biến tích cực giữa các nhóm ngành kinh tế, giảm tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản, tăng tỉ trọng nhóm ngành công nghiệp – xây dựng và nhóm ngành dịch vụ. Nhưng mức chuyển dịch giữa các năm còn chậm. Cụ thể, theo báo cáo tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh năm 2020 của tỉnh Quảng Trị cho thấy: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2019 ước tính tăng 7,72%, cao nhất trong giai đoạn 2016-2019 và cao hơn so với bình quân chung cả nước; đã khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành, các địa phương. Trong mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính tăng 4,92%; khu vực công nghiệp – xây dựng ước tính tăng 13,90%; khu vực dịch vụ ước tính tăng 6,13%.). GRDP bình quân đầu người năm 2019 theo giá hiện hành ước tính đạt 49,5 triệu đồng.
Thứ 3, xuất phát từ các khoảng trống trong các nghiên cứu trong và ngoài nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đóng góp các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng GRDP tỉnh Quảng Trị
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đóng góp của các nhóm ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Trị, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này không chuyên sâu, vẫn chưa giải quyết được triệt các nhiệm vụ trong nghiên cứu đóng góp các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng GRDP một cách hoàn thiện và tổng thể.
Xuất phát từ những lý do trên tác giả đã chọn đề tài:“Nghiên cứu đóng góp các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Trị.” rất cần thiết về mặt lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu sự đóng góp của ba nhóm ngành kinh tế: Nông lâm thủy sản, Công nghiệp – xây dựng, Dịch vụ vào tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Trị từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy sự đóng góp các nhóm ngành kinh tế nhằm tăng cao hơn nữa GRDP tỉnh Quảng Trị trong thời gian đến.
Mục tiêu cụ thể:
– Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và đóng góp của các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP).
– Phân tích, đánh giá đóng góp của các nhóm ngành kinh tế vào tăng trưởng GRDP của Tỉnh Quảng Trị, chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
– Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức độ đóng góp của các nhóm ngành kinh tế đến tăng tưởng GRDP Quảng Trị trong giai đoạn tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Đóng góp của các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng GRDP ở tỉnh Quảng Trị.
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian và không gian nghiên cứu của luận văn trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế tỉnh Quảng Trị. Vì giới hạn số liệu nên thời gian nghiên cứu chỉ thực hiện trong giai đoạn từ 2014-2018.
Về nội dung:
Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về đóng góp các nhóm ngành kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng GRDP tỉnh Quảng Trị.
Đề tài đánh giá thực trạng tăng trưởng GRDP, tăng trưởng các nhóm ngành kinh tế; chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và sự đóng góp của các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng GRDP tỉnh Quảng Trị dưới góc độ 3 nhóm ngành lớn: Nông lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp và xây dựng; dịch vụ. Ngoài ra đề tài còn xem xét đóng góp của các nhóm ngành kinh tế cấp I đến tăng trưởng GRDP Quảng Trị.
Dữ liệu và thông tin được sử dụng trong luận văn là nguồn dữ liệu và thông tin thứ cấp, được thu thập từ:
Các số liệu được tổng hợp từ Niên giám thống kê Tỉnh Quảng Trị qua các năm từ 2015 – 2018 và Số liệu thống kê tổng hợp giai đoạn 2013-2018. Các ấn phẩm này của Chi cục thống kê Tỉnh Quảng Trị công bố và xuất bản. Do vậy tính pháp lý và độ tin cậy có thể chấp nhận được.
Số liệu các nguồn lực như lao động, vốn đầu tư của tỉnh và các ngành cũng được tổng hợp từ các ấn phẩm này và đơn vị tính là 1000 người. Riêng số liệu vốn đầu tư sẽ được tính bằng giá giá so sánh, và giá so sánh sẽ là giá 2010 và đơn vị tính là tỷ đồng.
Các chỉ tiêu thống kê gồm giá trị sản xuất, GRDP của tỉnh, giá trị gia tăng,…của các ngành kinh tế cấp I và cấp II. Các số liệu này được tính bằng giá so sánh. Ở đây giá so sánh đã được Chi Cục Thống Kê chuyển về giá 2010.
Ngoài ra số liệu được thu thập và tổng hợp thêm từ các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội của UBND Tỉnh Quảng Trị qua các năm; các tài liệu thông tin đã được công bố trên các tạp chí, giáo trình, sách báo, đề tài và công trình khoa học trong và ngoài nước.
– Phương pháp nghiên cứu định tính: Sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và đóng góp của các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
– Phương pháp phân tích thống kê mô tả: phân tích biến động theo chuỗi thời gian theo các chỉ tiêu tốc độ phát triển liên hoàn hàng năm; tốc độ phát triển bình quân cả giai đoạn (nhiều năm); tốc độ tăng liên hoàn hàng năm; tốc độ tăng bình quân; lượng tăng tuyệt đối liên hoàn; lượng tăng tuyện đối bình quân để phân tích sự đóng góp các nhóm ngành kinh tế; tăng trưởng GRDP; giá trị tăng thêm của các nhóm ngành kinh tế; các ngành cấp I của tỉnh Quảng Trị.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng số tương đối kết cấu để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu nhóm ngành kinh tế của Quảng Trị theo thời gian. Để phân tích mức độ đóng góp của của các nhóm ngành kinh tế vào tăng trưởng GRDP tỉnh Quảng Trị thì luận văn kết hợp tốc độ tăng trưởng và số tương đối cơ cấu.
– Phương pháp dự báo: Để dự báo tăng trưởng GRDP tỉnh Quảng Trị trong những năm đến, luận văn sử dụng mô hình hồi quy hàm xu thế. Đây là một trong những phương pháp được phổ biến và có độ tin cậy cao để dự báo GRDP.
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày 3 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về đóng góp của các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
- Chương 2: Thực trạng đóng góp của các nhóm ngành kinh tế vào tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Trị
- Chương 3: Hàm ý chính sách về đóng góp các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng (GRDP) tỉnh Quảng Trị
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÓM NGÀNH KINH TẾ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TỔNG SẢN PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN (GRDP)
a. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product GDP) là giá trị thị trường của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước, trong một thời kì nhất định.
- Nicolas Gregory Mankiw (1992) là nhà kinh tế học người Mỹ, giảng viên trường đại học Harvard, ông cho rằng GDP là chỉ tiêu tốt nhất để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh tế. Theo ông: “GDP là tổng thu nhập kiếm được trong nước. Nó bao gồm cả thu nhập mà người nước ngoài kiếm được trong nước, nhưng không bao gồm thu nhập mà người dân trong nước kiếm được ở nước ngoài”. GDP là thước đo thành tựu kinh tế, vì nó phản ánh cả thu nhập của nền kinh tế và mức chi tiêu để mua sản lượng của nó. GDP là chỉ tiêu quan trọng để tính toán các chỉ tiêu có liên quan trong nền kinh tế.
- David Begg giáo sư kinh tế của trường Imperial College London, trong tác phẩm Economics, ông cho rằng: “GDP là chỉ tiêu đo lường sản lượng được sản xuất ra trong nền kinh tế trong nước bất kể ai sở hữu các yếu tố đầu vào sản xuất”. Thông qua chỉ tiêu GDP, Ông David Begg đã tính GDP theo ba cách tương đương: giá trị gia tăng trong sản xuất, thu nhập yếu tố bao gồm cả lợi nhuận hay chi tiêu cuối cùng.
- Phan Công Nghĩa – Bùi Đức Triệu (2012): “Tổng sản phẩm quốc nội GDP là chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) là giá thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước, trong thời ký nhất định”
- Vũ Thị Ngọc Phùng (2007) tiếp cận từ góc độ sản xuất, theo bà: “ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là toàn bộ giá trị tăng thêm của các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ được tạp ra do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ một nước trong một khoảng thời gian nhất đinh (thường là 1 năm)”
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2012)“Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra của một nền kinh tế trong một thời gian nhất định, thường được tính trong một năm”; Thuật ngữ “hàng hoá dịch vụ cuối cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị hàng hoá và dịch vụ sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm.
Hiện nay theo Tổng cục thống kê Việt Nam: “Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị hàng hóa cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm”. Cụm từ “Hàng hóa và dịch vụ cuối cùng” Khái niệm GDP của tổng cục thống kê được sử dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc, làm cơ sở để tính chỉ tiêu GDP của quốc gia và của các địa phương khác. Được hiểu theo nghĩa không tính giá trị sản phẩm hàng hóa vật chất và dịch vụ sử dụng ở khâu trung gian trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Mặc dù chỉ tiêu GDP chưa được toàn diện vì vẫn còn một số hạn chế: GDP không phản ảnh đầy đủ vai trò quan trọng của dịch vụ công trong phát triển kinh tế; sự khác biệt chất lượng phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, tài nguyên môi trường, không thể phản ảnh một cách toàn diện những thay đổi của mức sống nhân dân. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay, GDP vẫn là một chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh kết quả sản xuất của nền kinh tế và làm cơ sở nghiên cứu cơ cấu và sự biến động về cơ cấu kinh tế theo các ngành, các nhóm ngành, theo loại hình kinh tế. Phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần huy động vào ngân sách nhà nước và phúc lợi xã hội. Đánh giá tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, của các ngành, các loại hình, các khu vực, sự thay đổi về khối lượng hàng hóa và dịch vụ mới được tạo ra theo thời gian. GDP là căn cứ quan trọng để xây các kế hoạch phát triển và điều hành kinh tế – Xã hội của quốc gia và địa phương. GDP được các quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế tính toán công bố hàng năm và sử dụng rộng rãi.
b. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
Tổng sản phẩm trên địa bàn tiếng Anh viết là Gross regional domestic product (viết tắt là GRDP),đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động cuối cùng (mới sáng tạo) trong năm nghiên cứu của tất cả các đơn vị thường trú (bao gồm các đơn vị có hoạt động kinh tế: Các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, đơn vị an ninh, quốc phòng,v.v…) có trụ sở chính hoặc cơ sở hoạt động, sản xuất kinh doanh chính nằm trong phạm vi địa giới hành chính của tỉnh.

Ngoài ra, Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: “Toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trú trong nền kinh tế của tỉnh trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm); phản ánh các mối quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối thu nhập, sử dụng cuối cùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế địa phương” [12]. GRDP theo giá thực tế thường được dùng để nghiên cứu về cơ cấu và sự biến động về cơ cấu kinh tế theo các ngành, các nhóm ngành, theo loại hình kinh tế, đánh giá hiệu quả sản xuất sản phẩm xã hội trong nền kinh tế của địa phương. GRDP tính theo giá so sánh dùng để đánh giá tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế địa phương, của các ngành, các loại hình, các khu vực. Vì vậy GRPD còn là một trong những căn cứ quan trọng để các địa phương lập các kế hoạch về chi tiêu, đầu tư, tích lũy trong nền kinh tế, xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế của địa phương.
Tuy có nhiều quan điểm về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và có những khác biệt nhau về cách thức diễn giải, nhưng tất cả đều có điểm chung GDP là chỉ tiêu đo lường kết quả sản xuất của nền kinh tế tính trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, còn Tổng sản phẩm địa phương (GRDP) là tổng sản phẩm tính trên phạm vi một vùng, một tỉnh hay một thành phố nào đó.
Vì chỉ tiêu GRDP và chỉ tiêu GDP là tương đồng về mặt nội dung nhưng khác biệt về phạm vi tính. Chính vì vậy, về cơ bản cách tính GRDP cũng có những nét tương đồng như cách tính của GDP.
GDP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của nền kinh tế và luân chuyển qua ba giai đoạn: GDP được phân phối để tạo ra thu nhập cho các nhân tố đóng góp vào quá trình tạo ra GDP; GDP được sản xuất ra từ quá trình sản xuất của các kinh tế; GDP được các bộ phận trong nền kinh tế sử dụng như thế nào. Tương ứng với ba giai đoạn luân chuyển của GDP thì có ba phương pháp tính GDP khác nhau.
Phản ánh nguồn gôc GDP được tạo ra từ hoạt động sản xuất trong nền kinh tế:
+ Công thức tổng quát:
Tuy nhiên khi tính toán chỉ tiêu giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế chưa phản ánh hết phần thuế nhập khẩu nên để đầy đủ GDP theo phương pháp sản xuất được tính theo công thức (01).
| Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) | = | Tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế | + | Tổng thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài | (01) |
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế cần phải có sự tham gia của nhiều nhân tố để tạo ra kết quả cuối cùng là GDP. Vì vậy, kết quả sản tạo ra của nền kinh tế phải được phân chia theo mức độ đóng góp của các nhân tố vào quá trình sản xuất theo nguyên tắc “kẻ có của người có công”. Việc phân chia kết quả sản xuất của nền kinh tế chính là thu nhập lần đầu của các nhân tố, thực chất của các khoản thu nhập này là thu nhập của chủ sở hữu của các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra GDP. Để thấy rõ về quá trình tham gia của các nhân tố vào quá trình sản xuất và phân phối kết quả sản xuất theo sự đóng góp của các nhân tố, GS.TS. Phan Công Nghĩa đã mô hình hóa bằng sơ đồ (1.1).
Các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất
Lao động
Vốn sản xuất
Lao động trực tiếp
Lao động gián tiếp
Lao động quản lý nhà nước
Vốn cổ phần đóng góp
Vốn đi vay
Vốn đặc biệt (tài nguyên đất, nước, vùng biển…)
Thù lao lao động
Lợi tức kinh doanh
Thuế sản xuất
Khấu hao tài sản cố định
Lợi tức vốn góp
Lãi trả vốn vay
Tiền thuê quyền sử dụng
GDP theo phương pháp phân phối được xác định theo công thức (02):
| Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) | = | Tổng thu nhập lần đầu của chủ sở hữu các nhân tố tham vào quá trình sản xuất | = | Tổng thu nhập lần đầu của người lao động; doanh nghiệp; nhà nước | (02) |
– Phương pháp sử dụng cuối cùng:
Phương pháp sản xuất phản ánh nguồn gốc tạo ra GDP từ hoạt động sản xuất của nền kinh tế; phương pháp phân phối phản ánh GDP được phân chia như thế nào trong nền kinh tế, thì phương pháp sử dụng cuối cùng được xây dựng từ quá trình sử dụng GDP hay nói cách khác GDP được sử dụng như thế nào trong nền kinh tế.
Sau khi phân phối GDP để tạo ra thu nhập cho các thành phần tham gia vào quá trình sản xuất trong nền kinh tế. Các chủ sở hữa thu nhập sẽ sử dụng cho các mục đích như sau:
+ Tiêu dùng cho cá nhân và cộng đồng.
+ Tích lũy tài sản :Tài sản cố định và tài sản lưu động.
+ Bán, trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế chính là hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu ở đây chính là hoạt động bán sản phẩm vật chất và dịch vụ cho yếu tố nước ngoài. Toàn bộ giá trị xuất khẩu không chỉ là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ (từ nước này sang nước khác) mà hoạt động xuất khẩu được tính theo đơn vị thường trú (đơn vị thường trú quốc gia này sang đơn vị thường trú của quốc gia khác). Hay nói cách khác giá trị xuất khẩu của nền kinh tế bao gồm giá trị xuất khẩu qua khỏi biên giới của một quốc gia và xuất khẩu tại chỗ.
Trong quá trình tiêu dùng của cá nhân và cộng đồng về sản phẩm vật chất và dịch vụ không chỉ là hàng hóa được sản xuất trong nước mà còn có những hàng hóa được sản xuất từ nước ngoài. Tương tự như vậy tổng tích lũy tài sản trong nền kinh tế của một quốc gia bao gồm cả tài sản do chính quốc gia sản xuất và cả những tài sản do nước ngoài sản xuất. Tổng toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tiêu dùng; tài sản tích lũy do quốc gia khác sản xuất từ đâu mà có trong một nền kinh tế. Đây chính là toàn bộ giá trị hàng hóa vật chất và dịch vụ được nhập khẩu từ quốc gia khác. Để phản ánh quá trình toàn bộ quá trình sử dụng, GDP được xác định theo công thức (03).
Về bản chất cả ba phương pháp tính GDP theo quá trình sản xuất, phân phối hay sử dụng đều cho kết quả như nhau. Tùy thuộc vào điều kiện tổ chức thu thập thông tin thực tiễn của mỗi quốc gia sẽ lựa chọn phương pháp tính GDP cho phù hợp.
| Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) | = | Tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ tiêu dùng cho cá nhân và xã hội | + | Tổng tích lũy tài sản | + | Chênh lệch giá trị xuất nhập khẩu sản vật chất và dịch vụ | (03) |
Phương pháp tính GDP của Việt Nam
Từ khi chính thức áp dụng Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) thay thay thế cho Hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân (MPS) cho đến nay, chỉ tiêu GDP của Việt Nam cũng như các tỉnh thành phố trong cả được được tính theo phương pháp sản xuất. Theo quyết định số:75/2003/QĐ-TCTK: “Về việc ban hành tạm thời chế độ báo cáo thống kê định kỳ Tài khoản quốc gia áp dụng đối với Cục thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” do Tổng cục trưởng tổng cục thống kê Việt Nam ban hành ngày 15/01/2003, làm căn cứ tính GDP cho các địa phương từ năm 2003 cho đến cuối năm 2013.
Phương tính GDP theo phương pháp sản xuất được tính từ tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế và được tính theo (04):
| Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) | = | Tổng giá trị tăng thêm (VA) | + | Thuế nhập khẩu | (04) |
Để tính GDP từ tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế, cần phải tính giá trị tăng thêm trước khi tính GDP. Xét về bản chất cũng như nội dung Giá trị tăng thêm (VA- Value Added) và GDP là giống nhau, nhưng khác nhau về phạm vi tính. GDP được tính trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế của một quốc giá hoặc một địa phương (Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), VA được tính trong phạm vi tổ chức kinh tế, ngành kinh tế. Hay nói cách khác GDP là chỉ tiêu tổng hợp, còn VA là chỉ tiêu bộ phận.
Cách tính VA của từng ngành kinh tế theo phương pháp sản xuất (05):
| Giá trị tăng thêm (VA) | = | Giá trị Sản xuất (GO) | – | Chi phí trung gian (IC) | (05) |
Giá trị sản xuất (GO – Gross Output) là giá trị vật chất hàng hóa và dịch vụ được tạo ra từ hoạt động sản xuất của đơn vị cơ sở trong một thời kỳ nhất định (quý hoặc năm). Giá trị sản xuất được tính theo giá cơ bản hoặc giá sản xuất. Tùy thuộc vào mỗi ngành kinh tế sẽ có cách tính GO khác nhau.
Chi phí trung gian (IC – Intermediate Consumption) là một bộ phận của chi phí sản xuất không bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định và chi phí nhân công. Chi phí trung gian là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ khác trong một thời kỳ nhất định.
Việc tính toán chi phí trung gian của từng tổ chức kinh tế, từng ngành kinh tế hiện tại ở Việt Nam nói chung và các tỉnh thành khác nói riêng rất phức tạp nên chi phí trung gian được tính theo cách chuyển đổi tỷ lệ chi phí trung gian (06).
| Chi phí trung gian (IC) | = | Tỷ lệ chí phí trung gian so với giá trị của các đơn vị điều tra chọn mẫu | x | Tổng giá trị Sản xuất (GO) | (06) |
Tỷ lệ chi phí trung gian được tham chiếu từ kết quả điều tra lập bảng I/O (Input/Output) của Việt Nam, được sử dụng cho tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Để tính chỉ tiêu GDP thì có 3 cách tính tuy nhiên ở phạm vi một địa phương cấp tỉnh hay thành phố trực thuộc Trung ương thì GRDP chỉ được xác định theo phương pháp sản xuất là chủ yếu.
1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÓM NGÀNH KINH TẾ.
Tăng trưởng kinh tế quốc gia là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định, tăng trưởng kinh tế của một địa phương là sự gia tăng GRDP trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy, nghiên cứu này sử dụng lý thuyết tăng trưởng kinh tế và đóng góp của các nhóm ngành kinh tế làm căn cứ phân tích đóng góp của các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng GRDP của một địa phương trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính).
- “Theo Lý thuyết trọng thương” cho rằng tăng trưởng kinh tế của quốc gia do sự đóng góp của nhóm ngành thương mại – dịch vụ mang lại. Cụ thể:
-Thomas Mun (1571-1614) là một nhà Kinh tế học Anh, theo ông chỉ có ngành thương mại – dịch vụ mới là phương thức để kiếm tiền tạo ra vật chất, của cải, còn các hoạt động khác như công nghiệp, nông nghiệp không tạo ra tiền mà chỉ là phương tiện để có nhiều tiền mà thôi. Vì vậy mức độ đóng góp ngành Thương mại – dịch vụ càng được mở rộng thì càng có nhiều cơ hội kiếm tiền, quốc gia đó ngày càng tăng trưởng. Sự phát triển của nhóm ngành thương mại – dịch vụ là thước đo duy nhất cho sự phát triển phồn thịnh của một quốc gia, nhằm giúp tăng trưởng GDP.
Thomas Mun đã phát hiện ra vai trò của thương mại-dịch vụ trong việc tạo ra của cải. Thật vậy, mục đích của sản xuất hàng hóa là để bán, nếu không phát triển nhóm ngành thương mai-dịch vụ thì hàng hóa không thể thực hiện quá trình giao dịch, dẫn đến không thể thu hồi chi phí sản xuất và không thể tái sản xuất hàng hóa được.
Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khi Việt Nam đã gia nhập WTO như hiện nay, việc phát triển nhóm ngành thương mại – dịch vụ, nhất là ngoại thương là rất cần thiết đối với các nước khác nói chung và nước ta nói riêng. Nó không chỉ là phương thức để phát huy lợi thế của nền kinh tế mà còn là cầu nối giữa các nguồn lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng nhanh nền kinh tế, cụ thể là tăng trưởng GDP.
Dưới góc độ tiêu dùng E. Engel (1857) đã nhận diện ra rằng quy luật tiêu dùng được gọi là “Quy luật tiêu dùng Engel – Engel’s Law” đã chỉ ra mối quan hệ giữa giữa thu nhập và tiêu dùng của dân cư. Theo E. Engel nhu cầu tiêu dùng của dân cư sẽ dịch chuyển theo sự gia tăng về thu nhập, ở mức thu nhập thấp thì dân cư sẽ tiêu dùng những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của mình, nên cơ cấu tiêu dùng các sản phẩm của nhóm ngành nông lâm nghiệp và thủy sản sẽ chiếm tỷ trọng cao, nhưng đến khi thu nhập dân cư tăng lên thì nhu cầu về sản phẩm cao cấp, sản phẩm lâu bền, sản phẩm của ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ gia tăng theo thu nhập dựa theo nguyên lý kinh tế học sau: “Chi tiêu phục thuộc vào thu nhập”. Chính vì việc thay đổi nhu cầu tiêu dùng dân cư theo sự gia tăng thu nhập là cơ sở để nâng cao mức độ đóng góp của nhóm ngành thương mại – dịch vụ, thúc đẩy nền kinh tế chuyển dịch quá trình sản xuất từ nông lâm nghiệp và thủy sản sang công nghiệp và dịch vụ nhằm phục vụ quá trình thay đổi nhu cầu tiêu dùng của dân cư.
Xuất phát từ hiệu quả sản xuất của các nguồn lực trong nền kinh tế, Schumpeter (1929) cho rằng sẽ có quá trình dịch chuyển nguồn lực sản xuất từ ngành có hiệu quả sản xuất thấp đến hiệu quả sản xuất cao. Quá trình phân bổ và chuyển dịch nguồn lực sản xuất từ ngành này sang ngành khác dựa theo hiệu quả sản xuất sẽ dẫn đến mức độ đóng góp giữa các nhóm ngành kinh tế sẽ phù hợp hơn. Khi các ngành có hiệu quả sản xuất cao được phân bổ nguồn lực sản xuất sẽ thúc đẩy kinh tế quốc gia tăng trưởng.
- Theo lý thuyết kinh tế Lợi thế so sánh của David Ricardo cho rằng mỗi nhóm ngành kinh tế sẽ có mỗi đặc thù riêng, mức độ đóng góp của các nhóm ngành kinh tế là lợi thế riêng sẽ giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng trưởng, cụ thể :
– Quan điểm thứ nhất của nhà Kinh tế học David Ricardo (1772-1823), người khởi xướng các lý luận về lợi thế so sánh đã chỉ ra rằng : sự chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất và trao đổi thương mại – dịch vụ đem lại lợi ích cho tất cả những người cùng trao đổi với nhau. Mỗi nền kinh tế địa phương ắt sẽ có lợi trong việc chuyên môn hóa trong một hay một số khu vực có một lợi thế so sánh cho dù đó là nguồn nhân công dồi dào hay là tài nguyên khoáng sản và các tiềm năng về năng lượng… Tóm lại là sự chuyên môn hóa từ phạm vi nhỏ ở các địa phương cho đến những không gian lớn giữa các quốc gia trong hoạt động thương mại-dịch vụ đều đem lại lợi ích cho quốc gia. Lý thuyết này được David Ricardo đề ra năm 1987 gọi là quy luật lợi thế so sánh. Đây là lý thuyết quan trọng mà tất cả mọi nền kinh tế đều phải áp dụng trong thực tiễn để có được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ổn định trong nền kinh tế hiện đại.
– Quan điểm thứ 2 :Mô hình của David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng.
– Quan điểm thứ 3 của David Ricardo khi cho rằng: một nền kinh tế có thể phát triển bằng hai con đường: hoặc tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; hoặc bắt đầu từ khai thác hiệu suất trong sản xuất nông nghiệp.
- Theo Mô hình hai khu vực của Arthus Lewis (1954)
Nhà kinh tế học người Mỹ, A.Lewis đã đưa ra các giải thích về mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình tăng trưởng. Đặc trưng chủ yếu của mô hình hai khu vực cổ điển là phân chia nền kinh tế thành hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp và nghiên cứu quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực. Khu vực nông nghiệp, ở mức độ tồn tại, có dư thừa lao động và lao động dư thừa này dần dần được chuyển sang khu vực công nghiệp. Quá trình dịch chuyển này sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế trên cơ sở tăng trưởng của khu vực công nghiệp và dịch vụ và tăng trưởng nông nghiệp theo chiều sâu, tăng trưởng trên cơ sở tăng năng suất lao động nông nghiệp. Sự phát triển của khu vực công nghiệp quyết định quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thu hút lao động dư thừa do khu vực nông nghiệp tạo nên, và khả năng đó lại phụ thuộc vào tốc độ tích lũy vốn của khu vực công nghiệp.
- Mô hình này chú trọng đến phát triển công nghiệp.
- Theo Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima.
Harry T.Oshima là nhà kinh tế người Nhật, ông nghiên cứu mối quan hệ giữa hai khu vực dựa trên những đặc điểm khác biệt của các nước Châu Á so với các nước Âu – Mỹ, đó là nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao, vào thời gian cao điểm của mùa vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao động và lại dư thừa nhiều trong mùa nhàn rỗi.
Ông đồng ý với Lewis rằng khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động, nhưng theo ông thì điều đó không phải lúc nào cũng xẩy ra, đặc biệt là lúc thời vụ căng thẳng thì khu vực nông nghiệp còn thiếu lao động. Vì vậy, quan điểm của Lewis cho rằng sự dư thừa lao động nông nghiệp có thể chuyển sang khu vực công nghiệp mà không làm giảm sản lượng nông nghiệp là điều không thích hợp với đặc điểm châu Á, nhất là những vùng lúa nước, ở đây sản lượng nông nghiệp được tạo ra phụ thuộc nhiều vào đỉnh cao của thời vụ – ở những thời điểm không có dư thừa lao động Oshima cũng cho rằng về mặt lý thuyết thì trường phái tân cổ điển hòa toàn đúng khi họ đặt vấn đề ngay từ đầu phải đồng thời quan tâm đầu tư cho cả hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoặc là ông cũng đồng ý với quan điểm của Ricardo cho rằng một mô hình phát triển phải được bắt đầu từ hiệu suất nông nghiệp hoặc từ khả năng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp để nhập khẩu lương thực. Nhưng Oshima cho rằng quan điểm của trường phái tân cổ điển và hướng thứ 2 trong quan điểm của Ricardo là khó thực hiện được nếu không nói là thiếu thực tế trong điều kiện của các nước đang phát triển. Oshima đã phân tích mối quan hệ của hai khu vực trong sự quá độ về cơ cấu từ nền kinh tế do nông nghiệp chiếm ưu thế sang nền kinh tế công nghiệp.
Oshima đã phân tích quá trình tăng trưởng theo các giai đoạn:
Giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng là tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp. Cụ thể:
Dấu hiệu giai đoạn này là khi chủng loại nông sản sản xuất ra ngày càng nhiều với quy mô lớn, nhu cầu cung .cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp tăng cao và xuất hiện yêu cầu chế biến nông sản với quy mô lớn nhằm tăng cường tính chất hàng hóa trong sản xuất nông sản đặt ra vấn đề phát triển ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ với quy mô lớn.
Giai đoạn hai: Hướng tới việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng thời cả nông nghiệp và công nghiệp. Cụ thể:
Giai đoạn này là đầu tư phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ theo chiều rộng, cụ thể: tiếp tục thực hiện đa dạng hóa sản xuất cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp, thực hiện sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn, nhằm tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa ngày càng lớn; Phát triển các ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, đồ uống, đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ nhằm tăng cường số lượng việc làm và nâng cao tính hàng hóa; phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất nông cụ thường, nông cụ cầm tay, nông cụ cải tiến cho nông nghiệp, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp sản xuất. Để đảm bảo hiệu quả các loại hình phát triển trên đòi hỏi phải có sự hoạt động đồng bộ từ sản xuất vận chuyển, bán hàng đến các dịch vụ hỗ trợ tài chính tín dụng và các ngành có liên quan khác. Cần thiết phải hình thành các hình thức tổ chức sản xuất mang tính liên kết sản xuất giữa công nghiệp, nông nghiệp và cả dịch vụ dưới dạng các trang trại, các tổ hợp sản xuất công – nông nghiệp, nông – công nghiệp – thương mại … Phát triển nông nghiệp tạo điều kiện mở rộng thị trường công nghiệp, tạo yêu cầu tăng quy mô sản xuất công nghiệp cũng như nhu cầu các hoạt động dịch vụ. Khi đó việc di dân từ các khu vực nông thôn đến thành thị để phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ ngày càng tăng.
Giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ: thực hiện phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm bớt cầu lao động Cụ thể:.
Trong nông nghiệp do quy mô nhu cầu việc làm tăng mạnh dẫn tới tiền công ở khu vực này cũng được nhích dần lên với tốc độ ngày càng tăng. Do ưu thế của các ngành này cần vố đầu tư ít vốn, công nghệ dễ học hỏi, thị trường dễ tìm và dễ thâm nhập, có khả năng cạnh tranh ở thị trường ngoài nước làm cho xuất khẩu có xu hướng tăng nhanh. Khu vực dịch vụ cũng ngày càng mở rộng. Sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp, các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Trong giai đoạn này là phải đầu tư phát triển theo chiều sâu trên toàn bộ các ngành kinh tế. Một mặt, trong nông nghiệp cần hướng tới sử dụng máy móc thiết bị thay thế lao động và áp dụng phương pháp công nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng. Trong điều kiện đó khu vực nông nghiệp có khả năng rút bớt lao động để chuyển sang các ngành công nghiệp ở thành phố mà vẫn không làm giảm sản lượng nông nghiệp ở nông thôn. Mặt khác, khu vực công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhập khẩu và hướng về xuất khẩu với sự chuyển dịch dần về cơ cấu sản xuất sản phẩm.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ 17.09.L_B_PH_NG_MINH_-_K34_KPT_N_l_n_4_C_S_a_1
Nghiên cứu đóng góp các nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Trị


