Phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), tham gia giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề của xã hội: tạo ra thu nhập, xóa đói, giảm nghèo. Doanh nghiệp phát triển là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đất nước trong quá trình hội nhập. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, trình độ sản xuất kinh doanh, năng lực quản lý… để tạo ra khả năng cạnh tranh của mình. Và yêu cầu quan trọng hàng đầu là việc cung cấp vốn. Với chức năng trung tài chính, các ngân hàng giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ vốn giúp các doanh nghiệp duy trì, ổn định và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là một trong những ngân hàng luôn nằm trong top đầu các ngân hàng thương mại cổ phần, được các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, các khách hàng, các đối tác và các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao. Và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam cũng đang xây dựng chiến lược hoạt động hướng đến mô hình khối ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ theo chuẩn mực quốc tế tốt nhất với công nghệ hiện đại, đủ năng lực cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế hoạt động tại Việt Nam.
Với lợi thế về thương hiệu, tại địa bàn Quảng Nam, Vietcombank thành lập và hoạt động sau các ngân hàng thương mại khác nhưng đã bứt phá nhanh chóng để trở thành một trong những ngân hàng hàng đầu tại Quảng Nam. Qua 14 năm hoạt động, Chi nhánh đã có sự tăng trưởng đáng tự hào nhất là về chỉ tiêu dư nợ cho vay luôn nằm trong top 2 trên địa bàn. Để đạt được kết quả như vậy là do Ban lãnh đạo Chi nhánh đã lựa chọn hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp là một trong những sản phẩm chiến lược chính. Tuy nhiên, với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác, các nhu cầu và đòi hỏi của doanh nghiệp về sản phẩm, về chất lượng dịch vụ ngày càng khắt khe hơn, sẽ tạo áp lực rất lớn đối Chi nhánh. Do đó việc nhìn nhận đánh giá lại tình hình cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp trong thời gian qua từ đó đề xuất những khuyến nghị thích hợp để hoàn thiện hoạt động cho vay này của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam nói riêng trong thời gian tới là quan trọng và cần thiết.
Đồng thời, trong thời gian qua, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu thực hiện tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam đã được bảo vệ luận văn thạc sĩ tại Đại học Đà Nẵng, tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh.
Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam” làm công trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Mục tiêu của luận văn là phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp để từ đó đưa ra các đề xuất, khuyến nghị có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM.
- Phân tích thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank Quảng Nam.
- Đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank Quảng Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được nhiệm vụ nêu trên, nội dung của luận văn phải giải quyết được các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Đặc điểm hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM là gì?
- Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp?
- Mục tiêu phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp là gì? Nội dung, phương pháp phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM là gì? Tiêu chí nào để đánh giá hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp?
- Thực trạng của hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank Quảng Nam diễn biến như thế nào? Có những thành công, hạn chế và nguyên nhân nào?
- Để hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank Quảng Nam, các chủ thể liên quan cần làm gì?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
- Các đối tượng nghiên cứu (đối tượng khảo sát) cụ thể bao gồm:
- Các bộ phận/phòng chức năng bên trong ngân hàng: ngoài việc lấy số liệu về tình hình cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của Vietcombank Quảng Nam giai đoạn 2017-2019, để có thêm thông tin phân tích, nhận định, lý giải, tác giả dự kiến sẽ tham vấn một số cán bộ lãnh đạo và chuyên viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực này của chi nhánh: Ban giám đốc chi nhánh; lãnh đạo phòng phụ trách, các cán bộ làm việc tại các phòng thuộc trụ sở Chi nhánh như phòng Khách hàng Doanh nghiệp, phòng Khách hàng bán lẻ; lãnh đạo phòng phụ trách và các cán bộ làm việc tại 08 phòng Giao dịch gồm PGD Hội An, PGD Điện Nam – Điện Ngọc, PGD Điện Bàn, PGD Duy Xuyên, PGD Đại Lộc, PGD Thăng Bình, PGD Tam Kỳ, PGD Chu Lai của Vietcombank Quảng Nam.
- Các cơ quan, tổ chức, đối tác bên ngoài Ngân hàng: là các khách hàng doanh nghiệp hiện đang có dư nợ vay ngắn hạn tại các phòng nêu trên.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận văn không thực hiện nghiên cứu toàn bộ hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng mà chỉ tập trung phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
- Về không gian: Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam từ năm 2017 đến năm 2019.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống hóa cơ sở lý luận: Luận văn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu từ các giáo trình, tạp chí chuyên ngành, website… để đưa ra các cơ sở lý luận về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp một cách logic chặt chẽ và khoa học.
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:
+ Điều tra, khảo sát khách hàng; tham vấn chuyên viên tín dụng; lãnh đạo các bộ phận liên quan; các đối tác liên quan đến quá trình cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp;
+ Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam giai đoạn 2017-2019.
- Phương pháp phân tích thống kê: Dựa vào các dữ liệu đã thu thập được, tác giả sẽ sử dụng số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân; thực hiện so sánh theo thời gian, theo không gian, so sánh với mục tiêu đặt ra để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của Vietcombank Quảng Nam, từ đó rút ra kết luận, rút kinh nghiệm qua thực tiễn.
Ngoài ra tác giả tham khảo thêm những tài liệu có liên quan từ các số liệu báo cáo thống kê, báo cáo hoạt động của các tổ chức kinh tế, xã hội có liên quan, sách tham khảo và các bài viết chuyên khảo trên các tạp chí, các website chính thức.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về khoa học: Góp phần hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM, về khung phân tích hoạt động ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của một NHTM.
- Về thực tiễn: Phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank Quảng Nam, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank Quảng Nam.
6. Bố cục dự kiến của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
7. Tổng quan tình hình nghiên cứu.

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm cho vay của Ngân hàng thương mại
Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Cho vay chỉ là một trong nhiều hình thức cấp tín dụng. Bên cạnh cho vay, còn có nhiều hình thức cấp tín dụng khác như chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán…
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 do Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Cho vay được hiểu như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
1.1.2. Nguyên tắc cho vay của Ngân hàng thương mại
a. Vốn vay phải có mục đích sử dụng hợp pháp, sử dụng vốn vay đúng mục đích và hiệu quả
Mục đích của tín dụng ngân hàng là thông qua hoạt động cho vay để thúc đẩy đời sống kinh tế xã hội phát triển. Ngân hàng không cho vay để thực hiện những hoạt động kinh doanh trái phép, trái chức năng. Do đó, để ngân hàng có thể tập trung, kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng thì khách hàng phải nêu rõ mục đích sử dụng vốn vay trong đơn xin vay, khế ước nợ, hợp đồng tín dụng và buộc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đó. Ngân hàng có quyền đình chỉ và thu hồi nợ nếu phát hiện bên vay không tôn trọng nguyên tắc cho vay.
Mặt khác, việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng giúp cho ngân hàng giảm thiểu được rủi ro cho vay.
b. Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc lẫn lãi
Nguyên tắc này đề ra nhằm bảo đảm cho các NHTM tồn tại và hoạt động bình thường. Bởi nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động. Đó là một bộ phận tài sản của các sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, ngân hàng phải có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng mà họ yêu cầu. Nếu các khoản cho vay không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng.
c. Vay vốn phải có bảo đảm
Quá trình cung ứng vốn tín dụng ngắn hạn của NHTM đối với nền kinh tế sẽ làm tăng sức mua của xã hội, làm tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, làm tăng áp lực đối với lượng hàng hoá ở trên thị trường. Ngoài ra do tính chất vận động của vốn tín dụng là gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hoá, gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị. Do đó cần thực hiện nguyên tắc bảo đảm giá trị vật tư hàng hoá tương đương cho những khoản tín dụng đang thực hiện. Bảo đảm tiền vay có thể thực hiện bằng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, hoặc bảo đảm bằng chính tài sản được tạo ra do sử dụng vốn vay hoặc bảo đảm bằng tín chấp.
1.1.3. Phân loại cho vay của Ngân hàng thương mại
a. Dựa vào mục đích sử dụng vốn
Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.
Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài nhu cầu phục vụ đời sống, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân.
b. Dựa vào thời hạn vay
Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của loại cho vay này nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân.
Đặc điểm của loại hình cho vay này là có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh giảm được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô. Do đó, loại cho vay này thường có lãi suất thấp hơn so với các loại cấp tín dụng khác.
Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.
Loại hình cho vay trung và dài hạn thường được sử dụng để thực hiện quá trình tái đầu tư sản xuất theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu làm tăng mức sản xuất và của cải xã hội. Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu tư thường là dự tính nên loại tín dụng này thường chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Do có mức rủi ro cao như vậy nên nó có mức lãi suất tăng theo thời hạn vay.
c. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Cho vay có bảo đảm là việc cho vay vốn của NHTM mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết thực hiện bằng tài sản thế chấp, cầm cố, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Việc cho vay có tài sản bảo đảm áp dụng đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng.
Cho vay đảm bảo không bằng tài sản: NHTM cho vay dựa vào uy tín của khách hàng, đó là người trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành mạnh, có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay, hoàn trả nợ vay… Tuy nhiên, đây là hình thức cho vay mang nhiều rủi ro đối với các ngân hàng, các ngân hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay.
d. Dựa vào phương thức cho vay
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, các phương thức cho vay gồm:
“Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay.
Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn.
Cho vay lưu vụ: Là việc tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp.
Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, tổ chức tín dụng thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, tổ chức tín dụng xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.
Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 (một) năm.
Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chi tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm.
Cho vay quay vòng: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng.
Cho vay tuần hoàn (rollover): Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn đối với khách hàng với điều kiện:
Các phương thức cho vay khác được kết hợp các phương thức cho vay nêu trên, phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khoản vay.”
e. Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay
Cho vay trả góp: là loại cho vay mà việc hoàn trả vốn và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này thường áp dụng cho các khoản cho vay có thời hạn dài như cho vay bất động sản, cho vay tiêu dùng đối với những tài sản có giá trị cao. Ngoài ra, hình thức này còn áp dụng cho một số loại cho vay có giá trị nhỏ như cho vay đối với những nhà kinh doanh nhỏ (cho vay chợ), cho vay tài trợ trang thiết bị nông nghiệp.
Cho vay phi trả góp: là loại cho vay thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận.
Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: chẳng hạn như hình thức thấu chi, cho vay qua thẻ tín dụng.
f. Dựa vào xuất xứ của khoản vay
Cho vay trực tiếp: Đây là các khoản cho vay khi khách hàng trực tiếp đến ngân hàng và xin vay vốn. Ngân hàng trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng trên cơ sở những điều kiện mà hai bên thỏa thuận.
Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức tín dụng thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng cho vay thông qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ…Các tổ chức này thường xuyên liên kết các thành viên theo mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xóa đói giảm nghèo luôn được các trung gian quan tâm.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất, việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tín dụng sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp này, cho vay trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho ngân hàng.
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
Theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua năm 2020 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
- Phân loại Doanh nghiệp
– Căn cứ vào dấu hiệu sở hữu (Sở hữu vốn):
+ Doanh nghiệp Nhà nước
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Doanh nghiệp tập thể
+ Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị – xã hội
– Căn cứ vào phương thức đầu tư vốn:
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài)
– Căn cứ vào tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản:
+ Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn
+ Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn
– Căn cứ vào loại hình doanh nghiệp theo Luật:
+ Doanh nghiệp Nhà nước
+ Công ty cổ phần
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Công ty hợp danh
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Công ty TNHH một thành viên
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM
- Do nguồn vốn CVNH dùng để cung cấp cho các nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp như mua nguyên vật liệu, trả lương nhân công,… nên số vốn vay thường nhỏ, thời gian quay vòng vốn nhiều. Trong khi đối tượng sử dụng từ nguồn vốn trung và dài hạn thường là những tài sản cố định có thời gian sử dụng lâu dài do đó thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không được quay vòng nhiều.
- Thời hạn thu hồi vốn vay nhanh: Vốn vay ngắn hạn luân chuyển cùng chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc cho vay và thu nợ luôn diễn ra lúc bắt đầu và kết thúc của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thường cho vay khi doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn để nguyên vật liệu, vật tư hoặc trang trải các chi phí sản xuất, hoặc mua hàng hóa (đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại). Khi hàng hóa được tiêu thụ, doanh nghiệp có doanh thu, cũng là lúc ngân hàng thu hồi nợ. Xuất phát từ đặc điểm này, các ngân hàng thường quy định thời gian cho vay trên cơ sở chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, thời gian thu hồi vốn trong CVNH đối với doanh nghiệp nhanh.
- Rủi ro do cho vay ngắn hạn mang lại thông thường không cao hơn so với trong cho vay trung dài hạn.
Do các khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn do đó ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn, mức lãi suất CVNH đối với doanh nghiệp thấp hơn mức lãi suất cho vay trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu bộ chứng từ, giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh… đồng thời các khoản vay thường được tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu hoàn trả trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.
- Hình thức cho vay phong phú: các NHTM không ngừng cung ứng các hình thức cho vay phong phú trong nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của mình như cho vay theo hạn mức, cho vay từng lần, cho vay ứng trước, cho vay thấu chi, cho vay chiết khấu,… Điều này vừa để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của các doanh nghiệp, góp phần phân tán rủi ro, đồng thời giúp các ngân hàng tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường.
- Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp là một trong các hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM. Điều này xuất phát từ các lý do: Hoạt động nhận tiền gửi ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của NHTM, thêm vào đó là các quy định của NHNN về tỷ lệ vốn tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn. Cho nên, để bảo đảm khả năng thanh khoản của mình, hoạt động CVNH đối với doanh nghiệp là một trong các hoạt động chủ yếu của NHTM.
1.2.3. Nội dung hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại
Hoạt động CVNH của NHTM nhằm đạt được ba mục tiêu cơ bản tương ứng với ba mục tiêu hoạt động của ngân hàng với tư cách là một doanh nghiệp. Đó là các mục tiêu về cạnh tranh, sinh lời và kiểm soát rủi ro. Ba mục tiêu này có sự đánh đổi nhất định. Xét tổng thể, các mục tiêu này bao hàm sự đánh đổi. Vì vậy, tùy từng thời kỳ mà ngân hàng sẽ có những ưu tiên khác nhau về các mục tiêu. Tuy nhiên, xét về dài hạn, mục tiêu nâng cao tỷ suất sinh lời vẫn là mục tiêu ưu tiên.
Về lý thuyết, để đạt được các mục tiêu trong CVNH, các hoạt động chủ yếu của ngân hàng bao gồm:
a. Các hoạt động nhằm đạt mục tiêu về dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN và phát triển thị phần một cách phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng:
Hoạt động phát triển KHDN; vận dụng các công cụ chính sách Marketing – mix như: chính sách sản phẩm, chính sách lãi suất, chính sách phân phối; con người; bằng chứng vật chất; quy trình; chính sách tín dụng; chính sách chăm sóc khách hàng,… Bên cạnh đó, để đạt được mục tiêu tăng dư nợ cho vay doanh nghiệp, ngân hàng có thể thực hiện gia tăng số lượng KHDN vay vốn của ngân hàng bằng cách phát triển thị trường đến những khu vực địa lý mới, hoặc những phân khúc thị trường mới trên thị trường cũ hoặc gia tăng số lượng KHDN trên những khu vực thị trường đã hoạt động từ trước. Ngân hàng cũng có thể thực hiện bằng cách tăng quy mô vay bình quân từng KHDN. Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể tiến hành các hoạt động nhằm mục tiêu đa dạng hóa sản phẩm, đối tượng khách hàng nhằm đổi mới cơ cấu CVNH một cách hợp lý, phù hợp với những biến động trong nhu cầu của thị trường và năng lực đáp ứng của ngân hàng trong từng thời kỳ. Đa dạng hóa vừa là nội dung của hoạt động CVNH đối với doanh nghiệp vừa là một cách thức để đạt được mức dư nợ lớn hơn.
b. Hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu mà ngân hàng đề ra trong từng thời kỳ.
Để kiểm soát rủi ro tín dụng trong CVNH đối với doanh nghiệp, các NHTM sử dụng tổng hợp những công cụ, biện pháp khác nhau nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực do rủi ro tín dụng gây nên trong khi vẫn bảo đảm hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng và sinh lời phù hợp với bối cảnh và chiến lược kinh doanh của các NHTM trong từng thời kỳ. Hoạt động này bao gồm nhiều nội dung như: nhận diện; đánh giá; kiểm soát và tài trợ rủi ro. Hoặc xét theo cách tiếp cận khác, hoạt động này bao gồm các nội dung như: Hoạch định chiến lược và chính sách quản trị rủi ro tín dụng; tổ chức bộ máy quản trị; triển khai thực hiện chiến lược và chính sách; kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh…
c. Các hoạt động nhằm gia tăng hiệu quả sinh lời từ hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp:
Các hoạt động nhằm gia tăng hiệu quả sinh lời từ hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN như : xem xét điều chỉnh cơ cấu cho vay theo quy mô món vay, theo kỳ hạn; theo địa bàn; xem xét quan hệ giữa cấu trúc rủi ro và phần bù lãi suất; thực hiện các biện pháp tăng thu nhập bình quân trên 1 đơn vị dư nợ cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp; kiểm soát tốt chi phí cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp,…
d. Hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ trong cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM:
Chất lượng dịch vụ là một yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của bất cứ một NHTM nào, thước đo thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ, làm hài lòng khách hàng và là chìa khóa đem lại thành công và hiệu quả cho các NHTM. Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ CVNH đối với doanh nghiệp của ngân hàng đã được thực hiện từ nhiều năm mang lại sự phát triển cả về lý thuyết và thực tiễn. Một số các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ trong CVNH đối với doanh nghiệp của NHTM:
- Đơn giản hóa và hiện đại hóa thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong giao dịch hành chính với NHTM, điều này sẽ cải thiện tích cực môi trường kinh doanh của ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận vốn ngân hàng.
- Đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt phiền hà cho doanh nghiệp vay vốn để giảm chi phí, rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp dịch vụ để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng… thông qua việc công bố công khai trên trang tin điện tử các thông tin về hồ sơ tín dụng, dịch vụ, lãi suất, phí dịch vụ.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Nhân tố bên trong ngân hàng
a. Chính sách cho vay của ngân hàng
Chính sách cho vay KHDN bao gồm chính sách về khách hàng, hạn mức cho vay, lãi suất và thời hạn cho vay, hình thức cho vay, các khoản đảm bảo và chính sách xử lý với các tài sản có vấn đề. Chính sách cho vay doanh nghiệp đúng đắn, chặt chẽ hợp lý sẽ tạo điều kiện cho NHTM sử dụng nguồn vốn của mình khi cho vay một cách tối ưu hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quy mô, góp phần giảm thiểu thiệt hại, rủi ro cho ngân hàng, nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng.
b. Quy mô vốn và cơ cấu vốn cho khách hàng doanh nghiệp
Vốn huy động là nguồn vốn cho vay chủ yếu của ngân hàng, vì thế, ngân hàng luôn cố gắng huy động, lượng vốn ngày càng lớn đáp ứng nhu cầu vay vốn và vốn vay của doanh nghiệp. Ngân hàng không ngừng đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh để tìm kiếm vốn huy động, linh hoạt trong tìm kiếm nguồn, đưa ra nhiều chính sách hấp dẫn thu hút lượng tiền trong dân chúng và các doanh nghiệp đang thừa vốn.
Vốn tự có cũng quyết định đến việc mở rộng cho vay của ngân hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định tổng dư nợ cho vay của một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của NHTM. Vì vậy, vốn tự có của ngân hàng có tính quyết định đến khối lượng tín dụng tối đa mà ngân hàng có thể cho một doanh nghiệp vay. Điều này ảnh hưởng đến tổng dư nợ cho vay của ngân hàng và dư nợ cho vay KHDN cũng như chất lượng cho vay KHDN của ngân hàng.
c. Chất lượng công tác thẩm định cho vay:
Thẩm định là một việc rất quan trọng trong hoạt động cho vay của các ngân hàng. Khi cho vay, ngân hàng đều cần thẩm định món vay đó một cách kỹ càng, cẩn thận (về ngành nghề kinh doanh, môi trường kinh doanh, tình hình sản xuất kinh doanh, phương án sử dụng vốn vay có khả thi không, khả năng trả nợ… của khách hàng) để đưa ra quyết định có cho vay hay không và nếu cho vay thì được vay bao nhiêu… Chất lượng thẩm định ảnh hưởng lớn đến chất lượng cho vay doanh nghiệp của ngân hàng.
Nếu công tác thẩm định mà không được chú trọng, không chính xác thì quyết định cho vay doanh nghiệp sẽ có nhiều sai lầm, công tác cho vay không hiệu quả, gây rủi ro cho ngân hàng. Nhưng nếu quá trình thẩm định quá lâu, quá thận trọng, nhiều thủ tục rườm rà thì có thể ngân hàng sẽ bỏ qua cơ hội kinh doanh tốt của doanh nghiệp, mất chi phí và thời gian… Điều này sẽ làm giảm sức cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh hàng loạt ngân hàng đua nhau thành lập như hiện nay, gây ảnh hưởng đến chất lượng cho vay KHDN.
d. Chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng của ngân hàng:
Con người luôn yếu tố hàng đầu quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào, hoạt động cho vay KHDN của ngân hàng cũng không phải ngoại lệ. Đối với các NHTM thì trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp… của đội ngũ cán bộ tín dụng là điều hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay KHDN của NHTM vì đội ngũ cán bộ tín dụng là đội ngũ trực tiếp tiếp xúc, là cầu nối giữa doanh nghiệp với ngân hàng. Cán bộ tín dụng có năng lực chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp, có tâm huyết thì mới có thể ra các quyết định đúng đắn trong hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp. Cán bộ tín dụng cũng cần phải là người có kỹ năng tư vấn giúp cho doanh nghiệp lựa chọn các hình thức sản phẩm dịch vụ phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, hỗ trợ khách hàng hoàn thiện các hồ sơ thủ tục vay vốn nhanh và đảm bảo đúng quy định của ngân hàng.
e. Chất lượng thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động cấp tín dụng. Các quá trình cho vay đều cần có các thông tin chính xác, đầy đủ để ngân hàng có thể ra quyết định cho vay, kiểm soát hoạt động sử dụng vốn vay của doanh nghiệp. Đây chính là nguyên liệu cho quá trình cho vay gồm: thông tin về hoạt động cho vay, về môi trường kinh doanh, môi trường kinh tế, về đối thủ cạnh tranh,… Vì thế ngoài hệ thống thông tin tín dụng từ NHNN thì mỗi ngân hàng cần chủ động xây dựng một hệ thống thông tin cho riêng mình, để có thể đưa ra đánh giá chính xác nhất về doanh nghiệp. NHTM có đảm bảo được thông tin để đánh giá về doanh nghiệp một cách chính xác, kịp thời thì mới có thể đảm bảo chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp đó.
f. Công tác kiểm tra, giám sát các khoản vay:
Thực hiện việc cho vay KHDN, NHTM cần thẩm định, đánh giá chặt chẽ, chính xác, bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện khoản vốn vay của khách hàng… để nhanh chóng, kịp thời, bổ sung, điều chỉnh, khắc phục, sữa chữa những thiếu sót, yếu kém của ngân hàng trong công tác cho vay, tránh rủi ro cho NHTM. Điều này cũng đảm bảo xem doanh nghiệp sử dụng vốn vay như thế nào, đúng mục đích hay không, có hiệu quả không; đồng thời cán bộ tín dụng có thể hỗ trợ, tư vấn cho khách hàng nâng cao hiệu quả vốn vay. Do đó, ngân hàng cần phải thiết lập một đội ngũ kiểm soát có chuyên môn, có trách nhiệm cao, hoạt động có hiệu quả, giúp ngân hàng tránh những rủi ro, sai lầm trong kinh doanh từ đó góp phần nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay doanh nghiệp nói riêng.
g. Công nghệ, trang thiết bị ngân hàng:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ, cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cho vay doanh nghiệp của ngân hàng. Nếu cơ sở vật chất đồng bộ, trang thiết bị và công nghệ ngân hàng hiện đại, tiên tiến sẽ giúp các giao dịch diễn ra thuận tiện, nhanh chóng, dễ dàng hơn. Các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho dịch vụ ngân hàng hiện đại, môi trường làm việc văn minh, lịch sự, khang trang, đẹp đẽ giúp cho doanh nghiệp và cả cán bộ nhân viên của ngân hàng làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn, tạo niềm tin của doanh nghiệp đối với ngân hàng. Ngoài ra, công nghệ ngân hàng cũng tăng khả năng cạnh tranh của NHTM, từ đó ảnh hưởng đến việc thu hút khách hàng, mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp.
1.3.2. Nhân tố bên ngoài ngân hàng
a. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính của KHDN, nếu môi trường kinh tế xấu sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng khoản vốn vay mà doanh nghiệp đã vay của ngân hàng. Ngược lại, nếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn, thu hồi được vốn nhanh hơn đồng thời lợi nhuận thu được sẽ cao và từ đó khả năng trả nợ vay của doanh nghiệp được đảm bảo, khoản vay sẽ được trả đúng hạn, khoản vốn cho vay KHDN của ngân hàng sẽ có chất lượng tốt.
b. Môi trường chính trị xã hội
Tình hình chính trị, an ninh trật tự, an toàn xã hội… đều ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp và ngân hàng. Trong xu hướng hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, tình hình kinh tế chính trị trong và ngoài nước đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và các NHTM, ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng cho vay của ngân hàng.
- Môi trường pháp lý
Ngân hàng là một doanh nghiệp luôn phải hoạt động bó buộc trong một khung hành lang pháp lý hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào. Do đó, một hệ thống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động cao cho ngân hàng, cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay của các doanh nghiệp với NHTM. Ngược lại, nếu môi trường pháp lý không hoàn chỉnh, có nhiều lỗ hỏng và quy định chưa chặt chẽ sẽ tác động xấu đến các ngân hàng và doanh nghiệp, từ đó làm cho chất lượng của khoản cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp sẽ thấp và khó có thể thu hồi được.
- Môi trường tự nhiên và các ảnh hưởng bất khả kháng
Điều kiện tự nhiên thuận lợi hay khó khăn, ít chịu thiên tai hay chịu nhiều thiên tai, dịch bệnh… đều tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn và vốn vay của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động cho vay, quy mô cho vay và chất lượng cho vay của ngân hàng. Đây là một nguyên nhân gây rủi ro tín dụng mà con người không phải lúc nào cũng lường trước hết được.
1.3.3. Nhân tố từ phía doanh nghiệp
a. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng tốt thì doanh nghiệp càng dễ dàng tiếp cận vốn vay ngân hàng. Khi đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp, ngân hàng thường xem xét đến vốn tự có, vòng quay vốn lưu động, khả năng sinh lời. Đối với các doanh nghiệp có năng lực tài chính còn thấp, để có thể dễ dàng tiếp cận vốn, bản thân mỗi doanh nghiệp phải tự nâng cao uy tín của mình bằng hiệu quả hoạt động, chiến lược phát triển lâu dài, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả.
b. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ:
Khi một doanh nghiệp có đội ngũ quản lý tốt thì sẽ có được chiến lược kinh doanh tốt, khả năng kinh doanh cao và có thể quản lý vốn tốt. Nó được thể hiện ở cách thức tổ chức hoạt động chung, tổ chức hoạt động sổ sách kế toán, quản lý tài chính hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, môi trường kinh doanh. Nó còn thể hiện ở trình độ nhận định thị trường để có được chiến lược kinh doanh năng động và các biện pháp nhằm chống chọi lại những biến động bất lợi của thị trường. Năng lực quản lý này ảnh hưởng trực tiếp đến đội ngũ cán bộ, đến sản phẩm của doanh nghiệp, đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, mối quan hệ với các đối tác. Đây cũng là một tiêu chí quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn hay không và nếu vay thì với hạn mức là bao nhiêu.
c. Đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp
Đây là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của doanh nghiệp. Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện ở việc doanh nghiệp trung thực, sử dụng vốn đúng mục đích, quản lý tốt, báo cáo thật, đảm bảo hoạt động kinh doanh được lành mạnh, đảm bảo trả nợ được cho ngân hàng. Trong thực tế, một số doanh nghiệp vì muốn vay vốn nên đã tìm mọi cách để điều chỉnh số liệu báo cáo tài chính cho tốt và lập phương án vay vốn không đúng sự thật. Nếu doanh nghiệp mất uy tín đối với ngân hàng thì rất khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp tục được vay vốn ngân hàng.
1.4. KHUNG LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4.1. Mục tiêu phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Việc phân tích hoạt động CVNH đối với KHDN của từng NHTM nhằm đến các mục tiêu cụ thể sau:
- Phân tích ý nghĩa của những dữ liệu định lượng và dữ kiện định tính về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp trong các tài liệu phân tích, nhằm làm rõ những diễn biến, qua đó thấy được xu hướng vận động, những điểm đạt được cũng như những hạn chế chủ quan, những vướng mắc khó khăn từ các nhân tố bên ngoài.
- Chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, nhược điểm trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp.
- Trên cơ sở những kết luận rút ra từ phân tích, đề xuất các khuyến nghị đối với các cơ quan có liên quan nhằm giúp NHTM khắc phục được những hạn chế, hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp phù hợp với định hướng và chiến lược kinh doanh của từng thời kỳ.
1.4.2. Nội dung phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp thường được tiến hành theo các nội dung chủ yếu sau:
a. Phân tích bối cảnh bên ngoài và bên trong ngân hàng có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM.
b. Phân tích về công tác tổ chức thực hiện quá trình cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng.
c. Phân tích về các hoạt động ngân hàng đã thực hiện nhằm đạt các mục tiêu của hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Nội dung phân tích này tập trung vào 3 vấn đề chính:
- Phân tích về hoạt động phát triển khách hàng, gia tăng dư nợ; thực thi các chính sách cạnh tranh nhằm đạt mục tiêu về thị phần.
- Hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong CVNH đối với KHDN
- Hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ
d. Phân tích kết quả hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Phân tích kết quả hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tập trung vào các thành phần sau:
- Phân tích về quy mô cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp thể hiện qua các tiêu chí:
- Dư nợ cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của Chi nhánh:
Dư nợ CVNH đối với KHDN cho biết quy mô cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Dư nợ CVNH đối với KHDN được xét theo nhiều khía cạnh khác nhau như theo tài sản đảm bảo như cho vay có tài sản đảm bảo hoặc không có tài sản đảm bảo; theo thành phần kinh tế như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Dư nợ CVNH đối với KHDN được tính tại thời điểm nhất định như ngày, tháng, quý hoặc theo năm bất kỳ.
- Số lượng khách hàng vay vốn ngắn hạn
Số lượng KHDN vay vốn là số lượng doanh nghiệp có quan hệ vay vốn với ngân hàng. Chỉ tiêu được so sánh qua các năm để biết được tỷ trọng KHDN vay vốn gia tăng hay giảm xuống hàng năm, ngân hàng có đạt được tăng trưởng so với chỉ tiêu đề ra hay không.
- Dư nợ bình quân trên một khách hàng doanh nghiệp.
- Phân tích về thị phần cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng trên thị trường mục tiêu
Thị phần đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng trong CVNH đối với KHDN. Chỉ tiêu này được đánh giá qua tỷ trọng dư nợ CVNH đối với KHDN của ngân hàng đó so với tổng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN của tất cả các ngân hàng khác trên cùng địa bàn (thị trường mục tiêu) kể cả dư nợ của chính ngân hàng đó.
- Phân tích về cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Cơ cấu CVNH đối với KHDN phản ảnh mức độ đa dạng hóa hoạt động CVNH đối với KHDN. Phân tích cơ cấu CVNH đối với KHDN cho phép xem xét tương quan về tỷ trọng của từng loại hình CVNH theo các tiêu chí phù hợp. Thông thường, trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN, tùy theo điều kiện về số liệu hiện có, các loại cơ cấu sau thường được chú ý trong phân tích:
- Cơ cấu cho vay theo phương thức cho vay
- Cơ cấu cho vay theo loại hình doanh nghiệp
- Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế
- Cơ cấu cho vay theo hình thức bảo đảm
- Cơ cấu cho vay theo quy mô
- Cơ cấu cho vay theo loại tiền tệ
- Phân tích về hiệu quả sinh lời của hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Hiện nay, do các NHTM Việt Nam vẫn chưa có điều kiện để hạch toán lợi nhuận riêng của từng hoạt động cho vay riêng lẻ nên chưa thể tính toán chính xác hiệu quả sinh lời riêng của hoạt động CVNH đối với KHDN được.
Vì vậy, tùy theo điều kiện có thể có của số liệu mà vận dụng các chỉ tiêu thay thế một cách phù hợp. Chỉ tiêu thường được sử dụng là chỉ tiêu thu nhập cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp để đánh giá hiệu quả của hoạt động CVNH đối với KHDN trong NHTM.
- Phân tích kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp được phản ảnh qua các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ dư nợ CVNH đối với KHDN từ nhóm 2 đến nhóm 5
Đối với các NHTM Việt nam, việc phân loại nợ theo nhóm nợ thể hiện mức độ đánh giá rủi ro của khoản nợ. Theo thông lệ và theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam, trừ nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn, các nhóm nợ từ nhóm 2 trở lên (nhóm 2 – nợ cần chú ý, nhóm 3 – nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 – nợ nghi ngờ, nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn) được xem là các khoản dư nợ có rủi ro tín dụng. Vì vậy, tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 trên tổng dư nợ tín dụng cho phép đánh giá toàn bộ các biểu hiện rủi ro tín dụng tại một ngân hàng nhất định.
- Biến động cơ cấu nhóm nợ của tổng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 đánh giá toàn bộ các biểu hiện (hay các cấp độ) khác nhau của rủi ro tín dụng nhưng do tính không đồng nhất về mức rủi ro của các nhóm nợ, nên chưa đánh giá chuấn xác được mức độ rủi ro tín dụng tổng thể của ngân hàng vì vậy, cần phân tích thêm về cơ cấu các nhóm nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Nợ xấu là các khoản nợ được phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5, tức là các khoản nợ được phân loại vào các nhóm nợ :
+ Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3).
+ Nhóm nợ nghi ngờ (nhóm 4).
+ Nhóm nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5).
Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ là một chỉ tiêu phản ảnh khá chuẩn xác mức độ rủi ro tín dụng hiện tại của một Ngân hàng, vì nó tập trung chú ý các khoản nợ đã có biểu hiện rủi ro tín dụng ở mức cao.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này có nhược điểm là nó bao gồm cả ba nhóm nợ có mức độ rủi ro tín dụng khác nhau. Do đó, cần kết hợp với việc xem xét biến động trong cơ cấu nhóm nợ để thấy cụ thể hơn mức độ rủi ro tín dụng.
- Tỷ lệ xóa nợ ròng trong cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Các khoản xóa nợ ròng
Tỷ lệ xóa nợ ròng = x 100%
Tổng tài sản có
Trong đó: Xóa nợ ròng = Dư nợ đã xử lý rủi ro xuất ngoại bảng – Các khoản thực thu hồi ( từ phát mãi tài sản bảo đảm, thu được từ người vay … )
Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi nợ từ các khoản nợ đã chuyển ra ngoại bảng và đang được ngân hàng sử dụng các biện pháp để thu hồi. Nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng đang gặp rủi ro tín dụng vì có quá nhiều các khoản nợ ngoại bảng mà ngân hàng không thể thu hồi và ngược lại.
- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro các khoản cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Số trích lập dự phòng
Tỷ lệ trích lập dự phòng = x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Mức trích lập dự phòng theo quy định có hai loại là dự phòng xử lý rủi ro cụ thể và dự phòng chung. Vì vậy, tỷ lệ này có thể tính riêng chỉ cho mức trích lập dự phòng cụ thể. Tuy nhiên, vì tủy lệ trích lập dự phòng là như nhau đối với các nhóm nợ nên tỷ lệ trích lập dự phòng chỉ khác nhau do mức trích lập dự phòng cụ thể.
Mức trích lập dự phòng cụ thể căn cứ vào việc phân nhóm nợ có tính đến giá trị tài sản bảo đảm cho khoản vay. Vì vậy, mức trích lập này phản ảnh được mức độ tổn thất tiềm ẩn từ rủi ro tín dụng của ngân hàng, có tính đến yếu tố tài sản bảo đảm.
1.4.3. Phương pháp phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp
Về lý luận, phương pháp phân tích cần được vận dụng phù hợp với từng nội dung phân tích như đã xác định ở trên.
Theo đó, đối với các nội dung phân tích về bối cảnh bên ngoài và bên trong ngân hàng; về công tác tổ chức thực hiện quá trình CVNH đối với KHDN của ngân hàng; về các hoạt động ngân hàng đã thực hiện nhằm đạt các mục tiêu của hoạt động CVNH đối với KHDN, phương pháp phân tích chủ yếu là thu thập các dữ kiện thứ cấp bao gồm cả các dữ kiện định lượng và định tính từ các báo cáo của chính ngân hàng và các dữ kiện thứ cấp thu thập bên ngoài , các kết quả thu thập dữ kiện sơ cấp qua khảo sát, tham vấn ý kiến, vận dụng kết hợp các phương pháp phân tích: logic, đối chiếu, so sánh, tổng hợp liên quan để rút ra kết luận.
Đối với nội dung phân tích kết quả hoạt động cho vay của ngân hàng, phương pháp phân tích chủ yếu được sử dụng là tính toán các chỉ tiêu, so sánh với mục tiêu đặt ra và/hoặc so sánh theo thời gian (tùy theo điều kiện dữ liệu, nội dung và mục tiêu phân tích) để chỉ ra xu hướng, mức độ hoàn thành, phát hiện các vấn đề tồn tại, bất cập.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của ngân hàng thương mại. Nêu ra những nội dung cụ thể để phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của ngân hàng thương mại như mục tiêu phân tích, phương pháp phân tích cũng như các chỉ tiêu đánh giá hoạt động này.
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG NAM
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG NAM
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam hoạt động vào ngày 01/04/1963 theo Quyết định số 115/CP ngày 30/10/1962 của Hội đồng Chính phủ. Tính đến 31/12/2019, Vietcombank hiện có 111 chi nhánh, 472 phòng giao dịch hoạt động tại 53/63 tỉnh thành phố trong cả nước; thiết lập và duy trì quan hệ ngân hàng đại lý với 1.316 ngân hàng tại 102 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
Với lịch sử hơn 58 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu.
Căn cứ Quyết định số 216/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT, Vietcombank Quảng Nam được thành lập vào ngày 27/4/2006 trên cơ sở nâng cấp chi nhánh cấp 2 của Vietcombank Quảng Ngãi với tên gọi chi nhánh cấp 2 Tam Kỳ và chính thức khai trương đi vào hoạt động vào ngày 03/07/2006. Tên đầy đủ bằng tiếng Việt là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam. Tên đầy đủ bằng tiếng Anh là Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Viet Nam – Quang Nam Branch. Tên giao dịch là Vietcombank Quảng Nam. Tên viết tắt là VCB Quảng Nam. Trụ sở đặt tại số 35 Trần Hưng Đạo, Tam Kỳ, Quảng Nam hoạt động độc lập, thực hiện các hoạt động nghiệp vụ theo ủy quyền và phân cấp của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Trải qua hơn 14 năm hoạt với sự lãnh đạo, điều hành hiệu quả của Ban Giám đốc và đội ngũ cán bộ nhiều chuyên môn, Vietcombank Quảng Nam đã tạo lập được uy tín và có được vị thế nhất định trước các ngân hàng thương mại khác trên địa bàn toàn tỉnh, xây dựng hình ảnh của một ngân hàng hiện đại gắn liền với khẩu hiệu “Chung niềm tin vững tương lai”.
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN


