Hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hoạt động tín dụng hiện nay vẫn là hoạt động chính mang lại thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đi đôi với cuộc chạy đua tăng trưởng tín dụng để mở rộng thị phần và tăng nguồn thu nhập, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong kinh doanh ngân hàng. Những năm gần đây theo định hướng tín dụng của ngân hàng BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk là tăng trưởng tín dụng khối khách hàng cá nhân, chi nhánh Đông Đăk Lăk cũng rất chú trọng phát triển dư nợ của đối tượng khách hàng này, chi nhánh từng đạt nhiều thành tích về tăng trưởng tín dụng khách hàng cá nhân trong hệ thống ngân hàng BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
Tuy nhiên bên cạnh đó việc cấp tín dụng khách hàng cá nhân, đặc biệt là khách hàng cá nhân kinh doanh cũng còn tồn tại nhiều vấn đề tiềm ẩn rủi ro và để lại những hậu quả nhất định, qua đó cho thấy việc kiểm soát rủi ro tín dụng đối tượng khách hàng cá nhân chưa được qua tâm đúng mức hoặc kết quả kiểm soát chưa được như mong đợi. Từ những nội dung trên, tôi đã chọn vấn đề “Hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đắk Lắk” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. Trên cơ sở các đề tài kế thừa các nghiên cứu trước đây về kiểm soát RRTD, đề tài này hệ thống hóa các lý luận về rủi ro tín dụng và nội dung kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân kinh doanh. Luận văn này đi theo hướng nghiên cứu làm rõ nội dung kiểm soát RRTD trong cho vay vay cá nhân kinh doanh, cũng như biện pháp kiểm soát RRTD trong cho vay thường được các NHTM sử dụng. Bên cạnh đó luận văn này đưa ra các yêu cầu triển khai hiệu quả các biện pháp RRTD tại BIDV – Chi nhánh Đông Đắk Lắk, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát RRTD trong cho vay vay cá nhân kinh doanh.
Mục tiêu nghiên cứu lý luận: Trình bày một cách có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
Mục tiêu thực tiễn: Phân tích thực trạng các rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk. Đánh giá các kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác kiểm soát rủi ro và xử lý rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại chi nhánh. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk, cụ thể như các quy định, quy trình trong cho vay cá nhân kinh doanh để kiểm soát rủi ro tại chi nhánh.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh của BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
+ Về mặt không gian: Thực hiện nghiên cứu tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
+ Về mặt thời gian: Dữ liệu nghiên cứu hoạt động tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2018. Đây là khoảng thời gian tôi bắt đầu công tác tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk đến nay, nên tôi có thể quan sát, đánh giá, nhận xét được công tác kiểm soát rủi ro tại đơn vị qua các năm có sự thay đổi, khác biệt như thế nào.
5.1. Cách tiếp cận
Trước hết, đề tài nghiên cứu sẽ tìm hiểu về mặt lý luận của rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay và đặc thù của rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh cũng như công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh của NHTM. Kế đến, đề tài tiến hành khảo sát thực tế công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk hiện nay. Sau cùng, những kết quả khảo sát thực tế sẽ được so sánh và kết hợp với các nghiên cứu lý thuyết để tìm ra những vấn đề còn yếu kém xuất phát từ phía ngân hàng (nguyên nhân bên trong), và những vấn đề còn tồn tại xuất phát từ môi trường bên ngoài, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk trong thời gian tới.
5.2. Về nguồn số liệu sử dụng
Nguồn số liệu sơ cấp: Thông tin thu được thông qua phỏng vấn lãnh đạo ngân hàng, nhân viên ngân hàng và khách hàng.
Nguồn số liệu thứ cấp: Từ các bảng biểu, báo cáo tài chính hàng năm của BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk; Báo cáo thống kê doanh số cho vay, doanh thu thu nợ, dư nợ, nợ quá hạn…Thu thập thông tin, số liệu và các tài liệu liên quan từ Phòng kế hoạch nguồn vốn, Phòng tổng hợp như dư nợ cho vay cá nhân kinh doanh theo các tiêu chí khác nhau như ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, quy mô, hình thức đảm bảo và cơ cấu dư nợ, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ thu hồi và xử lý nợ xấu trong giai đoạn 2015 – 2018

5.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của các luận văn Thạc sỹ được bảo vệ tại các trường đại học trong nước, các bài báo khoa học trong các tạp chí, giáo trình tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước. Từ đó chọn lọc, tổng hợp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin để đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh.
Phương pháp mô tả, so sánh và đối chiếu:
- Phương pháp mô tả: Trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp so sánh, thống kê mô tả, phân tích dữ liệu qua các năm thuộc thời gian nghiên cứu để thấy rõ thực trạng công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả thực hiện so sánh về mặt không gian tại BIDV Đông ĐăkLăk và các đối thủ trên địa bàn, so sánh về mặt thời gian giữa các năm nghiên cứu để hỗ trợ đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV Đông Đăk Lăk.
6. Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Một là, hệ thống hóa những cơ bản về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân và rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại.
Hai là, trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân và RRTD khách hàng cá nhân, luận văn chỉ rõ những mặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
Ba là, trên cơ sở lý luận và thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Chi nhánh, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằn hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân.
8. Bố cục (dự kiến) của luận văn
Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk
Chương 3: Giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁ NHÂN KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM. Có thể hiểu “Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên là NHTM chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời gian đã thỏa thuận”. (Nguyễn Thị Mùi: Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, 2008).
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng và phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Về đối tượng: là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗi KHCN là không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội.
Quy mô và số lượng các khoản vay: Thông thường quy mô của mỗi khoản vay của KHCN thường nhỏ hơn các khoản vay của doanh nghiệp. Tuy vậy, ở các NHTM số lượng các khoản vay KHCN thường lớn. Ở các NHTM hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ, số lượng các khoản vay khách hàng cá nhân là rất lớn và do đó tổng quy mô các khoản vay KHCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng.
Về chi phí cho vay: Chi phí mà NHTM bỏ ra đối với các khoản cho vay KHCN thường lớn vả về chi phí nhân lực và công cụ. Bởi đối tượng cho vay KHCN là cá nhân có diễn biến phức tạp, số lượng các khoản vay là lớn, song quy mô mỗi khoản vay lại tương đối nhỏ.
Về lãi suất cho vay: Lãi suất của các khoản vay KHCN thường cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Nguyên nhân là do các chi phí cho vay KHCN tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, các khoản cho vay KHCN có mức độ rủi ro cao và kém nhạy bén với lãi suất.
Về rủi ro tín dụng: Các khoản cho vay KHCN bao giờ cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao. Sở dĩ như vậy là do đối tượng cho vay là các cá nhân, hộ gia đình nên tình hình tài chính dễ thay đổi tùy theo tình trạng công việc, sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật và khoa học công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh trên thị trường bị hạn chế. Do đó, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người vay bị thất nghiệp, gặp tại nạn hay phá sản. Bên cạnh đó việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN thường không đầy đủ về thông tin cũng là một trong những lý do dẫn tới tình trạng rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay KHCN.
NHTM cung cấp nhiều loại hình cho vay khác nhau tương ứng với sự đa dạng trong mục đích vay vốn của khách hàng, từ việc mua ô tô và sắm sửa các phương tiện sinh hoạt, chuẩn bị cho các kỳ nghỉ, tài trợ cho quá trình học tập đến việc xây nhà ở, văn phòng… Các danh mục cho vay có thể được sắp xếp rất đa dạng tùy theo các tiêu thức quản lý khác nhau của các NHTM.
a. Căn cứ theo thời hạn cho vay
– Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay dưới 12 tháng trở xuống, chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của khách hàng. Cho vay ngắn hạn thường có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô và thị trường, vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại cho vay khác.
– Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng và sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
– Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư thường kéo dài, nên tín dụng dai hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án. Nhìn chung, cho vay dài hạn chịu rủi ro rất lớn, bởi vì thời hạn càng dài, thì biến động không dự tính có thể xảy ra càng lớn.
b. Căn cứ theo hình thức bảo đảm
– Cho vay không bảo đảm: là hoạt động cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng. Thông thường ngân hàng chỉ cho vay không bảo đảm đối với những khách hàng truyền thống, có khả năng tài chính mạnh, hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt.
– Cho vay có tài sản bảo đảm: là loại hình tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Hình thức cho vay này thường được các ngân hàng cung cấp cho khách hàng có mức độ tin cậy thấp, khách hàng vay vốn lần đầu tiên… Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn trả nợ thứ hai trong trường hợp rủi ro khách hàng không trả được nợ từ nguồn trả nợ thứ nhất; đồng thời đây cũng là một biện pháp để khách hàng nâng cao trách nhiệm sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả, đúng mục đích và trả nợ vay đúng thời hạn.
Khách hàng có thể bảo đảm bằng nhiều loại tài sản khác nhau, có thể bảo đảm bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay của ngân hàng hoặc bảo đảm bằng uy tín của mình.
+ Bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu hay sử dụng lâu dài của khách hàng: sử dụng trong cho vay cầm cố và cho vay thế chấp.
Cho vay cầm cố: NHTM cho khách hàng vay với điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết. Danh mục và điều kiện của tài sản cầm cố được ngân hàng quy định cụ thể dựa trên quy định của pháp luật và chính sách tín dụng của từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố là các tài sản mà ngân hàng có thể kểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc nắm giữ không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động của khách hàng, chẳng hạn như: các loại giấy tờ có giá, kim loại quý, ngoại tệ mạnh…
Cho vay thế chấp: Trong hình thức cho vay thế chấp, người vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời hạn đã cam kết.
Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thường là bất động sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất… hoặc là những động sản mà việc nắm giữ tài sản này không thuận tiện như ô tô, xe máy… Việc thế chấp bằng tài sản cho phép người nhận tài trợ tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian vay, tuy nhiên quá trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát tài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế. Việc định giá tài sản đảm bảo cũng là một khó khăn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng, tránh định giá quá cao gây thiệt hại cho ngân hàng hoặc định giá quá thấp gây ảnh hưởng đến khả năng vay của khách hàng. Tuy nhiên, đối với cho vay cá nhân thì tài sản đảm bảo cũng không quá lớn như nhà xưởng, dây chuyền sản xuất… như đối với cho vay kinh doanh.
+ Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản đó không đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật đảm bảo. Chẳng hạn khách hàng vay tiền mua ô tô, ngân hàng có thể yêu cầu lấy chính chiếc ô tô đó làm vật bảo đảm, khi khách hàng không có khả năng hoàn trả thì ngân hàng sẽ phải phát mại ô tô đó để thu nợ.
Để đảm bảo rằng khách hàng sẽ không bán được sử dụng không cẩn thận, làm giảm giá trị của tài sản, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải cam kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng đồng thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu tài sản cho ngân hàng.
c. Theo mục đích sử dụng vốn
– Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình như mua ô tô, mua sắm vật dụng trang thiết bị gia đình,…
– Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình, bổ sung vốn lưu động, mua máy móc, đầu tư cơ sở vật chất… Các phương thức cho vay phổ biến là cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay hạn mức thấu chi, cho vay trả góp…
– Cho vay chứng minh tài chính và hỗ trợ chi phí du học: Cho vay chứng minh tài chính và hỗ trợ chi phí du học là sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu hỗ trợ tài chính để làm thủ tục chứng minh tài chính xin xét cấp Visa và/hoặc thanh toán học phí cùng các chi phí phát sinh trong thời gian du học.
d. Căn cứ vào phương thức cho vay
– Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Đây là hình thức tương đối phổ biến của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Cho vay từng lần là hình thức cho vay theo món khi khách hàng có nhu cầu;
– Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay. Đây là loại hình cho vay có rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Vì vậy, lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại;
– Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là phương thức cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định pháp luật;
– Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng, duy trì hạn mức cho vay được tính từ thời điểm hạn mức cho vay bắt đầu có hiệu lực, cho đến thời điểm hạn mức tín dụng đó hết hiệu lực hoặc hạn mức cho vay khác thay thế;
– Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của pháp luật về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Rủi ro là vấn đề muốn tránh trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau:
– Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
– Theo Hennie van Greuning-Sonja B rajovic Bratanovic: rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khỏan của ngân hàng.
– Theo Khoản 1 Điều 3 trong Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng(sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN có những đặc điểm cơ bản sau:
– Rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
– Rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN có tính chất đa dạng và phức tạp: biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như các hậu quả do rủi ro tín dụng gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện phòng ngừa, hạn chế và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp.
– Rủi ro có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM: Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đặc biệt tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, nên bất cứ khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hoạt động tín dụng của các NHTM. Vì vậy trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM cần chủ động có các biện pháp thích hợp để xác định rủi ro, định lượng rủi ro, quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
a. Nguyên nhân xuất phát từ môi trường kinh doanh
– Môi trường kinh tế: Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến họat động SXKD của người đi vay. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu) dầu thô, may gia công vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu. Những khó khăn do bị khống chế hạn ngạch trong ngành dệt may, hay những vụ kiện bán phá giá trong ngành thủy sản,…, làm ảnh hưởng trực tiếp đến họat động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung. Không chỉ xuất khẩu, những mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém, chẳng hạn, mặt hàng sắt thép bị ảnh hưởng rất lớn bởi giá thép thế giới, việc tăng giá phôi thép làm cho mộ t số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất do chi phí giá thành rất lớn trong khi không tiêu thụ được sản phẩm. Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế cũng dẫn đến những hệ quả tất yếu làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên do khách hàng có tiềm lực tài chính lớn đã bị các ngân hàng nước ngòai thu hút bằng các sản phẩm, dịch vụ mới với nhiều tiện ích hơn.
– Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, các chính sách quản lý kinh tế thường thay đổi đột ngột dẫn đến việc ra đời các văn bản pháp lý chưa phù hợp làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam, khiến nhiều tổ chức kinh tế không điều chỉnh kịp thời phương án kinh doanh.
– Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh: Đây là rủi ro mà cả khách hàng lẫn ngân hàng đều không lường trước đối với khoản cho vay của mình, khách hàng gặp khó khăn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng. Đối với khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh thì cũng phải có thời gian để ổn định lại quá trình kinh doanh thì mới có khả năng trả nợ ngân hàng, còn với khách hàng có tiềm lực yếu thì khoản tín dụng có khả năng rất cao lâm vào tình trạng nợ xấu. Mặc dù lọai rủi ro này có thể được hạn chế bằng cách mua bảo hiểm, tuy nhiên khi lọai rủi ro này xảy ra, khách hàng và ngân hàng cũng phải mất nhiều thời gian để lấy được khoản tiền bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng.
b. Nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng vay vốn
– Năng lực sử dụng tiền vay của khách hàng vay vốn kém: Trong thực tế, có nhiều khách hàng có phương án kinh doanh rất khả thi, lĩnh vực kinh doanh có rất nhiều thuận lợi, tuy nhiên khi bắt đầu có đủ các điều kiện về vốn để thực hiện phương án thì do năng lực quản trị, kinh nghiệm điều hành còn hạn chế, không đủ khả năng ứng phó trước những biến động thị trường dẫn đến hoạt động kinh doanh không đạt hiệu quả như kế họach đã đề ra.
– Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích : Khách hàng cố tình lập các chứng từ rút vốn vay giả mạo mà do nhiều lí do ngân hàng không phát hiện được, để lấy vốn vay sử dụng khác với mục đích đã trình bày trong phương án vay vốn. Việc sử dụng vốn vay sai mục đích trong n hiều trường hợp là do người vay sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm với kỳ vọng sẽ mang lại lợi nhuận cao, tuy nhiên kết quả lại không như ý muốn. Cũng có trường hợp khách hàng đã không có khả năng trả nợ vay tại ngân hàng khác, và cố tình tìm mọi cách vay vốn tại ngân hàng này và mang đi đảo nợ là nguyên nhân dẫn đến khách hàng không có nguồn trả nợ để thanh toán nợ đúng hạn và đầy đủ cho ngân hàng.
c. Nguyên nhân xuất phát từ nội bộ ngân hàng
– Chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo: Định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, chưa triệt để nguyên tắc của thị trường là lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận đươc, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, phong trào, khẩu hiệu phát triển kinh tế, tìm mọi cách cạnh tranh, giành giật thị trường ở các ngành hàng, các nhóm khách hàng mà không hề nhận thấy rằng ngân hàng mình không có sở trường trong lĩnh vực này hoặc chưa chuẩn bị đủ tiềm lực đối với ngành hàng này.
– Kỹ thuật cấp tín dụng còn nghèo nàn, chưa hiện đại và đa dạng: Việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp.
– Công tác quản lý rủi ro tín dụng và kiểm soát sau cho vay chưa được chú trọng, chỉ mang tính hình thức.
– Thiếu thông tin: Ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu về khách hàng một cách đầy đủ, chưa có các kênh kiểm tra chéo thông tin, việc phân tích tín dụng và quyết định cho vay hầu như chỉ dựa trên các thông tin từ phía khách hàng cung cấp, các mối quan hệ cá nhân.
– Chất lượng đội ngũ cán bộ liên quan đến công tác tín dụng chưa cao: Đội ngũ cán bộ thiếu trình độ chuyên môn, không đủ khả năng thẩm định phương án vay vốn của khách hàng cũng như thiếu kinh nghiệm phát hiện các những điều bất thường trong phương án của khách hàng và không đủ khả năng nhận biết tình hình kinh tế xã hội tác động như thế nào đến lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, điều này dẫn đến việc đưa ra các quyết định cho vay không đúng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động qua trọng nhất của NHTM, bao gồm hai mặt đó là sinh lời và rủi ro. Phần lớn các thua lỗ của ngân hàng từ hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, không có cách gì để loại trừ rủi ro hoàn toàn mà phải kiểm soát rủi ro. Đứng trước quyết định cho vay, CBQLKH phải cân nhắc mâu thuẩn giữa sinh lời và rủi ro.
Tác động đến ngân hàng
– Giảm thu nhập, tăng chi phí, giảm lợi nhuận: Bản chất của hoạt động ngân hàng là đi vay để cho vay. Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm phát sinh các khoản nợ khó đòi, ngân hàng sẽ không thu được vốn đã cho vay đồng thời lại phát sinh thêm chi phí quản lý và chi phí giám sát thu nợ. Các khoản chi phí này thực tế còn cao hớn các khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất các khoản nợ quá hạn bởi vì đây là khoản thu nhập ngân hàng khó có khả năng thu hồi, đồng thời vẫn trích lập dự phòng cho những rủi ro, làm gia tăng chi phí và dẫn đến việc giảm sút lợi nhuận của NHTM.
– Giảm khả năng thanh khoản: Các NHTM thường lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra và dòng tiền vào, các món vay không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn sẽ dẫn đến mất cân đối giữa hai dòng tiền. Các khoản tiền gởi, tiền tiết kiệm của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn trong khi các món vay lại không hoàn trả đúng hạn, do đó nếu ngân hàng không đi vay hoặc bán các tài sản của mình thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị hạn chế, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong khâu thanh toán.
– Giảm uy tín, có thể phá sản: Nếu tình trạng mất khả năng chi trả của ngân hàng diễn ra nhiều lần hay thông tin về rủi ro tín dụng của ngân hàng bị tiết lộ ra công chúng thì uy tín của ngân hàng đó trên thị trường tài chính sẽ bị giảm sút. Hậu quả là ngân hàng sẽ khó khăn trong việc huy động vốn từ dân cư và thiết lập giao dịch với các doanh nghiệp, các ngân hàng khác. Nếu rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ nghiêm trọng, NHTM mất khả năng thanh toán, kết quả kinh doanh thua lỗ trầm trọng sẽ dẫn đến khả năng gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho các khách hàng gởi tiền dẫn đến tình trạng đồng loạt rút hết tiền gởi tại NHTM, đẩy NHTM đi tới việc phá sản.
Tác động đến nền kinh tế
Đặc điểm hoạt động của hệ thống NHTM là huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn. Khi rủi ro tín dụng xảy ra, không những ngân hàng bị thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản, vì tâm lý lo sợ nên để bảo toàn tài sản của mình, người gửi tiền ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho hệ thống ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong vấn đề chi trả và có nguy cơ mất khả năng thanh toán, dẫn đến bị phá sản và nền kinh tế bị tê liệt. Sự rối loạn của các ngân hàng thương mại sẽ ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, khủng hoảng tài chính, xã hội mất ổn định.
Trong thời gian trước đây, có khá nhiều ngân hàng ở Việt Nam vẫn xem nhẹ việc kiểm soát rủi ro tín dụng, xem đây chỉ là hoạt động hỗ trợ trong tổng thể hoạt động của ngân hàng. Thực sự đây là một quan điểm sai lầm đã được minh chứng qua cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, khi các NHTM coi nhẹ công tác kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến những hậu quả rất lớn.
Hiện nay, công tác kiểm soát rủi ro tín dụng đã được đánh giá là một phần gắn kết với các hoạt động của NHTM khi đặt những kế hoạch, chiến lược kinh doanh hay là các mục tiêu tăng trưởng. Kiểm soát rủi ro hiệu quả giúp cho ngân hàng ngăn ngừa được khả năng xảy ra rủi ro, giảm thiểu mức độ tổn thất xảy ra. Theo cách tiếp cận quản trị rủi ro, kiểm soát rủi ro nói chung được hiểu là những kỹ thuật, những công cụ, những chiến lược và những quá trình nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro và tổn thất hoặc lợi ích. Do vậy, kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay của ngân hàng cũng được hiểu là việc ngân hàng sử dụng những kỹ thuật, những công cụ, những chiến lược và những quá trình nhằm biến đổi rủi ro tín dụng thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro tín dụng và tổn thất hoặc lợi ích.
Chính vì vậy, hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh của NHTM chính là các biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai khi NHTM biết cách cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận và an toàn trong hoạt động tín dụng.
Nguyên tắc chấp nhận rủi ro: Trong thực tế, rủi ro và lợi nhuận luôn đi đôi với nhau, nói cách khác hoạt động ngân hàng là phải mạo hiểm với những rủi ro tính toán được. Mỗi cơ hội đầu tư luôn mang theo những rủi ro tiềm ẩn, hiểu rõ và đầy đủ về những loại rủi ro chính yếu là cần thiết để mạo hiểm có tính toán và đưa ra quyết định nhanh và chính xác.
Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép: Nguyên tắc này đòi hỏi phần lớn rủi ro trong “gói rủi ro cho phép” phải có khả năng điều tiết trong quá trình quản lý, không phụ thuộc vào hoàn cảnh khách quan và chủ quan của nó. Ngoài ra, đối với những loại rủi ro không có khả năng điều chỉnh cần phải đẩy sang các công ty bảo hiểm bên ngoài. Ngân hàng có thể chuyển rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh qua các công ty bảo hiểm bằng cách mua bảo hiểm cho các khoản tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh và khi rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ được các công ty bảo hiểm bồi thường một phần hay toàn bộ tổn thất tuỳ theo loại bảo hiểm đã mua.
Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung và khả năng đáp ứng của NHTM: Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản trị rủi ro, các ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình chỉ cho phép chấp nhận các mức độ rủi ro mà thiệt hại khi chúng xảy ra ở mức không được cao quá khả năng đáp ứng của NHTM. Có nghĩa rằng, tất cả các loại rủi ro có mức độ rủi ro cao hơn khả năng đáp ứng của NHTM cần được loại bỏ. Ngân hàng không nên đánh đổi giữa lợi nhuận và an toàn tín dụng khi rủi ro quá cao.
Quá trình quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh bao gồm 4 nội dung: Nhận dạng, đo lường, kiểm soát, tài trợ rủi ro tín dụng.
a. Nhận dạng rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh
– Nhận dạng rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro và bất định của một tổ chức. Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận diện các thông tin, dấu hiệu về nguồn rủi ro tín dụng, hiểm họa và nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết và có giải pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả.
– Ngân hàng thực hiện nhiều phương pháp giám sát thực tiễn sản xuất kinh doanh của khách hàng và việc thực hiện các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng nhằm phát hiện ra các dấu hiệu rủi ro thực tiễn và những biến động xấu trong sản xuất kinh doanh của khách hàng.
– Có các phương pháp nhận dạng rủi ro sau: Phương pháp lưu đồ, phương pháp nghiên cứu dữ liệu tổn thất trong quá khứ, phương pháp bảng liệt kê, phương pháp phân tích tài chính, phương pháp giao tiếp với chuyên gia, phương pháp đánh giá các hiểm họa tín dụng, phương pháp giao tiếp với nội bộ tổ chức, phương pháp phân tích hợp đồng trong phân tích, nhận dạng rủi ro.
b. Đo lường rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh
– Đo lường rủi ro tín dụng là việc dùng các mô hình để lượng hoá rủi ro đối với danh mục cho vay, từng khách hàng vay và từng khoản vay cụ thể. Từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa cũng như mức trích lập dự phòng rủi ro.
– Mô hình định tính: Các nội dung phân tích thường được các ngân hàng gộp lại thành từng nhóm nhằm thẩm định từng mặt, từng khía cạnh khác nhau. Các ngân hàng thường dùng tiêu chuẩn CAMPARI: Character (tư cách của người vay), Ability (năng lực của người vay), Margin (lãi cho vay), purpose (mục đích vay), Amount (số tiền vay), Repayment (sự hoàn trả), Insurance (bảo hiểm); hoặc tiêu chuẩn 5C: Character (tư cách của người vay), Capital (vốn), Capicity (năng lực), Collateral (bảo đảm ), Conditions (điều kiện). Trong đó, tiêu chuẩn 5C được sử dụng phổ biến hơn trong công tác phân tích và đo lường rủi ro tín dụng.
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\DCCT KON TUM\BUI TIEN DAT
Hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân kinh doanh tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam


