Hoàn thiện công tác quản lý thu chi tiền chi trả dịch vụ môi trường tại Qũy bảo vệ phát triển rừng

Hoàn thiện công tác quản lý thu chi tiền chi trả dịch vụ môi trường tại Qũy bảo vệ phát triển rừng

Hoàn thiện công tác quản lý thu chi tiền chi trả dịch vụ môi trường tại Qũy bảo vệ phát triển rừng

MỞ ĐẦU

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là khái niệm còn rất mới đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Thực tế tại Việt Nam khái niệm này đã và đang hiện hữu, chứng tỏ được tính phù hợp, hiệu quả; là cơ chế tài chính mang tính đột phá và hướng đi mới cho quản lý rừng bền vững.

Việt Nam là quốc gia tiên phong trong khu vực Châu Á đã tạo lập khuôn khổ, hành lang pháp lý khá toàn diện cho việc hình thành hệ thống Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (QBVPTR) gắn kết chặt chẽ với chính sách dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 được ban hành là bước tiến mới quan trọng trong việc thay đổi cách tiếp cận, từ việc đầu tư chủ yếu dựa vào Ngân sách nhà nước (NSNN) sang huy động các nguồn lực xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng.

Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam (Quỹ TW) để thực hiện chức năng huy động tiếp nhận và quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng theo quy định tại Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ. Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam là một tổ chức tài chính nhà nước, chịu sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk được thành lập theo Quyết định số 1687/QĐ-UBND ngày 01/8/2012 của UBND tỉnh Đắk Lắk. Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk là quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách tổ chức hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT Đắk Lắk và chịu sự kiểm tra, giám sát về tài chính của Sở Tài chính.

Sau hơn 5 năm vận hành Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk đã cơ bản đi vào hoạt động ổn định, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận, góp phần cải thiện đời sống của người dân miền núi.

Tổng số tiền DVMTR mà Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk thu được trong giai đoạn 2013-2017 là 276,4 tỷ đồng, thì số tiền đã chi trả cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ chi trả môi trường rừng là 208,4 tỷ đồng và chi cho hoạt động quản lý là 26,9 tỷ đồng. Đây là tiềm năng rất lớn cho việc cung ứng dịch vụ môi trường rừng, tạo tiền đề để làm thay đổi nhận thức của cả bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ, góp phần giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Tuy vậy, đến nay các vấn đề liên quan quản lý tiền DVMTR chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể, việc thu tiền DVMTR đối với các cơ sở kinh doanh du lịch có sử dụng DVMTR trên địa bàn tỉnh chưa triển khai thực hiện, công tác kiểm tra giám sát chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa đánh giá một cách tổng thể cơ hội và thách thức của việc quản lý thu, chi DVMTR, cũng như những tác động môi trường, kinh tế và xã hội mà DVMTR đem lại. Do đó, để bền vững tính lâu dài của chính sách, cần có một hệ thống giám sát thống nhất hơn, đảm bảo sự hài lòng cho các đối tượng nộp tiền và bên cung ứng dịch vụ.

Hiện nay, vẫn chưa có một đánh giá, nghiên cứu nào đề cập đến quản lý tiền chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Các đánh giá trước đây chỉ dừng ở các giải pháp chung trong các điều kiện thực tế khác biệt nên không phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thu, chi tiền chi trả dịch vụ môi trường tại Qũy bảo vệ phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk” đã được lựa chọn để làm luận văn cao học của mình.

3. Mục tiêu của đề tài

Đề tài được thực hiện nhằm để đạt được ba mục tiêu sau:

– Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cũng như công tác quản lý thu, chi tiền DVMTR;

– Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu, chi tiền DVMTR từ đó đưa ra hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế;

– Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý thu, chi tiền DVMTR.

Câu hỏi nghiên cứu:

– Thực trạng quản lý tiền dịch vụ môi trường rừng tại Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk hiện nay như thế nào? Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế?

– Làm thế nào để tăng cường quản lý thu, chi tiền dịch vụ môi trường rừng tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk những năm tới?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk. Đồng thời nghiên cứu các tài liệu sau:

+ Báo cáo số liệu hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR;

+ Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk qua các năm nghiên cứu;

+ Các văn bản hướng dẫn hoạt động quản lý tài chính Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi về nội dung: Đề tài đặt trọng tâm vào nghiên cứu công tác quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk.

– Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các nội dung của công tác quản lý thu chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk.

– Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thu thập dữ liệu giai đoạn từ năm 2013 đến 2017.

5. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở thu thập dữ liệu về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk. Tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:

a. Thu thập dữ liệu: Luận văn được hình thành trên cơ sở sử dụng các số liệu thứ cấp bao gồm tài liệu thống kê, báo cáo tài chính đã được công bố, nghiên cứu giáo trình, tài liệu tham khảo; các tạp chí chuyên ngành để tìm hiểu cơ chế chính sách DVMTR.

+ Dữ liệu tại đơn vị: dựa vào các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, số liệu phòng kế toán, phòng truyền thông… cũng như các văn bản hướng dẫn của Quỹ tỉnh nhằm nắm bắt quy trình tổ chức, triển khai thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ nhằm đưa ra giải pháp thiết thực hoàn thiện quản lý thu, chi tiền DVMTR.

+ Dữ liệu bên ngoài đơn vị: Các văn bản pháp lý, Thông tư, Nghị định, các văn bản hướng dẫn, quy trình kiểm tra giám sát, nghiệm thu thanh toán tiền DVMTR…. nhằm củng cố cơ sở pháp lý để đánh giá quy trình, kết quả thực hiện hay môi trường, thể chế chính sách tại địa phương.

b. Xử lý dữ liệu:

– Phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng kết kinh nghiệm: dựa trên cơ sở kiến thức thực tiễn về công tác quản lý thu, chi tiền DVMTR, kết hợp với việc tham khảo các tài liệu trong nước về chính sách chi trả DVMTR từ đó chọn lọc, tổng hợp và hệ thống hóa các nội dung để đưa ra cơ sở lý luận về công tác quản lý thu, chi tiền DVMTR.

– Phương pháp so sánh: Tác giả tiến hành nghiên cứu báo cáo tài chính của đơn vị trong 5 năm, so sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của đơn vị, thấy được sự cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới. So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của đơn vị.

– Phương pháp phân tích tổng hợp: Được sử dụng trong luận văn để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của đơn vị thông qua các tiêu chí về cơ cấu, số lượng, chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị, các yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực, đến các nguồn thu, nguồn chi, các kết quả đạt được, tồn tại và các nguyên nhân.

– Các tài liệu sau khi thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa để tính toán các chỉ tiêu phù hợp cho việc phân tích. Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê để hệ thống hóa và tổng hợp tài liệu. Các công cụ và kỹ thuật tính toán được xử lý trên chương trình Excel. Công cụ phần mềm này được kết hợp với phương pháp phân tích chính được vận dụng là thống kê mô tả để phản ánh thực trạng năng lực của đơn vị thông qua các số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, được thể hiện thông qua các bảng biểu.

Việc kết hợp sử dụng nhiều phương pháp để tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng trong nhận thức được thực trạng quản lý tài chính cũng như giúp cho thông tin thu thập được đầy đủ, chính xác, phong phú … phục vụ tốt cho quá trình thực hiện luận văn.

Hoàn thiện công tác quản lý thu chi tiền chi trả dịch vụ môi trường tại Qũy bảo vệ phát triển rừng
Hoàn thiện công tác quản lý thu chi tiền chi trả dịch vụ môi trường tại Qũy bảo vệ phát triển rừng

6. Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện

6.1. Nội dung

Nội dung 1: Tổng quan nghiên cứu: phân tích ưu điểm và nhược điểm về cơ sở lý luận, phương pháp, giải pháp trong quản lý thu, chi tiền DVMTR của các luận văn trước. Tìm ra điểm kế thừa và nghiên cứu bổ sung hoàn thiện hơn.

Nội dung 2: Cơ sở lý luận về hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk:

Nội dung 3: Thực trạng quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk

+ Tìm hiểu khái quát về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk: quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức và kết quả hoạt động trong những năm gần đây (giai đoạn 2013 – 2017).

+ Thực trạng hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR.

+ Đánh giá chung hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR.

Nội dung 4: Giải pháp và khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk

+ Định hướng hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR trong thời gian tới

+ Các kiến nghị đưa ra nhằm hoạt động quản lý thu, chi tiền DVMTR

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.

– Luận văn sẽ hệ thống hóa, góp phần phát triển, bổ sung thêm những lý luận cơ bản về chính sách chi trả DVMTR trong bối cảnh hiện nay;

– Đánh giá thực trạng vấn đề quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân;

– Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk.

8. Bố cục dự kiến của luận văn

Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng;

Chương 2: Thực trạng quản lý thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk;

Chương 3: Phương hướng và khuyến nghị nhằm hoàn thiện quản lý thu, tiền DVMTR tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ THU, CHI TIỀN DỊCH VỤ

MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI QŨY BẢO VỆ VÀ

PHÁT TRIỂN RỪNG

1.1. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG

      1. 1.1.1 Tổng quan về tài nguyên rừng

a. Khái niệm về tài nguyên rừng

Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.

Rừng được xem là lá phổi xanh của thế giới giúp điều hoà khí hậu, cân bằng sinh thái cho môi trường. Rừng làm dịu bớt nhiệt độ của luồng khí nóng ban ngày đồng thời duy trì được độ ẩm. Rừng còn bổ sung khí cho không khí và ổn định khí hậu toàn cầu bằng cách đồng hoá carbon và cung cấp oxi.

Rừng là một hệ sinh thái trên thực tế rừng đã có lịch sử phát triển lâu dài những hiểu biết về rừng. Rừng cũng có thể hiểu bằng một cách khác là vùng đất đủ rộng có cây cối mọc lâu năm.

+ Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó.

+ Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng. Rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao.

+ Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác. Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng.

b. Vai trò của tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng có tác dụng nhiều mặt trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội có thể kể ra đây một số vai trò quan trọng:

– Tài nguyên rừng có vai trò cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ các nhu cầu của xã hội: Cung cấp lâm sản, gỗ, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu quý …

– Tài nguyên rừng có vai trò làm chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sống, cảnh quan văn hoá xã hội: Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, chống xói mòn rửa trôi thoái hoá đất, phòng hộ ven biển, chắn sóng, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, điều hoà khí hậu, bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch…

– Tài nguyên rừng có vai trò tạo nguồn thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, đặc biệt là đồng bào thuộc vùng trung du miền núi.

– Tài nguyên rừng có chức năng nghiên cứu khoa học: Đối tượng sản xuất lâm nghiệp là rừng. Rừng luôn chứa đựng nhiều vấn đề bí ẩn cần phải bảo tồn và nghiên cứu, đặc biệt là tính đa dạng sinh học của rừng không chỉ có giá trị trước mắt mà còn có giá trị cho các thế hệ tương lai…

– Tài nguyên rừng có chức năng lưu giữ nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học.

– Tài nguyên rừng có chức năng bảo vệ an ninh quốc phòng đất nước.

      1. 1.1.2. Tổng quan về chính sách chi trả DVMTR

a. Dịch vụ môi trường rừng

Là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ:

– Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối.

– Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội.

– Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững.

– Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch.

– Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.

b. Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng

Trên thế giới, khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường (PFES) được hiểu như sau: “Là một giao dịch tự nguyện đối với loại dịch vụ môi trường cụ thể… giữa ít nhất một bên sử dụng dịch vụ môi trường và một bên cung ứng dịch vụ môi trường khi và chỉ khi bên cung ứng dịch vụ môi trường có khả năng cung cấp dịch vụ (trong những điều kiện cụ thể)” (Wunder, 2005)

Cũng theo Wunder (2005), dưới áp lực tăng dân số, ngày càng nhiều đất Lâm nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Trong khi một số người quản lý sử dụng rừng có thêm nhiều lợi ích từ việc chuyển đổi thì một số người khác có thể gặp khó khăn như nạn phá rừng có thể gây tổn hại đến khả năng điều hòa nước của đất, tăng khả năng xảy ra lũ lụt ở vùng hạ lưu. Những người sử dụng DVMTR phải “Bồi thường” cho người cung ứng DVMTR để có thể đảm bảo cung cấp dịch vụ liên tục và người cung cấp DVMTR có thể có thêm thu nhập từ nỗ lực bảo vệ rừng của họ.

* Sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)

WTP là thước đo độ thoả mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường cầu thị trường tạo nên cở sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể.

Nền tảng của PFES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thoả thuận với bên nhận được lợi ích từ các lợi ích từ môi trường. Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm khác của PFES, ví dụ PFES là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa ít nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với các hàng hoá dịch vụ môi trường, thì tính điều kiện vẫn là đặc điểm rõ nhất phân biệt PFES với các cách tiếp cận trước đây.

Theo nghiên cứu của Rohit Jindal and John Kerr 2007, thì cơ sở của PFES là dựa trên sự thoả thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả để đưa ra một mức giá hợp lý. Thông qua việc thoả thuận, hai bên có thể đạt được mức lợi ích mà mình mong muốn đối với các dịch vụ môi trường. Mô hình dưới đây cho thấy các ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên.

Đường thẳng AB là đường lợi ích cận biên của những người ở vùng thượng lưu (ở đây là chủ rừng) đối với việc chặt phá rừng. Có thể nhận thấy lợi ích cận biên của họ giảm dần khi chặt thêm cây, nguyên nhân có thể do giá cả của gỗ hoặc những cây có giá trị cao đã bị chặt phá trước. Đường thẳng OD biểu diễn mức chi phí biên của người ở vùng hạ lưu, chi phí này ngày càng tăng lên cùng với việc nhiều cây bị mất đi. Hai đường này cắt nhau tại E, là điểm mà lợi ích của hai bên là như nhau, tương ứng với mức giá là P. Đây là mức giá mà những người ở hạ lưu sẵn lòng chi trả và những người chủ rừng sẵn sàng chấp nhận.

Ngoài ra, mức chi trả này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu về PFES. Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong một nghiên cứu của Pagiola, 2003 trong Hình 1.2.

Trong mô hình này có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng và sử dụng các bãi cỏ là lợi ích của những người chủ rừng nhưng lại là chi phí của những nhà máy thuỷ điện và cư dân ở hạ lưu. Phần màu xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác gỗ, buôn bán động vật hoang dã… Ngược lại phần diện tích màu đỏ cho thấy chi phí hay thiệt hại của các nhà máy thuỷ điện khi rừng bị chặt phá, ví dụ như các thiệt hại về kinh tế do giảm năng suất hay thiên tai, lũ lụt, bồi lắng lòng hồ… Do đó, những nhà máy này sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để trả cho người chủ rừng nhằm duy trì các khu rừng đầu nguồn và lợi ích của họ và mức tiền này phải nhỏ hơn phần thiệt hại về kinh tế nhưng không làm giảm bớt lợi ích của người chủ rừng. Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây.

Như vậy, nguyên tắc cơ bản của chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là đảm bảo lợi ích cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua việc nhận được sự bồi hoàn cho chi phí của việc cung ứng những dịch vụ này.

c. Các giá trị dịch vụ môi trường rừng

* Giá trị phòng hộ đầu nguồn: các chức năng này bao gồm: Giữ đất, kiểm soát được xói mòn và quá trình lắng đọng bùn cát; điều tiết dòng chảy hạn chế lũ lụt, cung cấp nguồn nước, kiểm soát chất lượng nước đảm bảo nguồn nước sạch dồi dào phục vụ cho tưới tiêu sản xuất nông nghiệp, nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất thủy điện. Việc mất đi lớp rừng che phủ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, góp phần gia tăng các thảm họa tự nhiên gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất.

* Giá trị bảo tồn đa dạng sinh học: Rừng được coi là sinh cảnh cực kỳ quan trọng nếu xét về mặt đa dạng sinh học mà chúng sỡ hữu. “Lấy số lượng loài để minh chứng cho tính đa dạng sinh học: Tổng số sinh vật được mô tả và phát hiện lên đến 1,75 triệu loài theo phỏng đoán con số này chỉ chiếm 13% thực tế (Stork, 1999)”. Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới, ước tính khoảng 24% các loài động vật có vú trên trái đất và khoảng 12% loài chim đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng.

* Giá trị lưu giữ, hấp thụ cacbon và điều hòa khí hậu: Giá trị lưu giữ và hấp thụ cacbon của rừng rất đáng kể, đặc biệt là rừng tự nhiên và rất khác biệt giữa các loại rừng. Giá trị lưu giữ và hấp thụ cacbon tỷ lệ thuận với trữ lượng và sinh khối rừng. Với giá trị lưu giữ cacbon cao nhất là ở rừng tự nhiên giàu, tiếp đến là rừng trung bình, nghèo, phục hồi và thấp nhất là tre nứa.

* Giá trị du lịch và vẻ đẹp cảnh quan: Du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển và là biện pháp sử dụng rừng nhiệt đới không cần quan du lịch của khai thác mà vẫn đem lại giá trị kinh tế cao và đầy tiềm năng. Các nghiên cứu về giá trị cảnh rừng đã được tiến hành một số khu du lịch sinh thái đã thu hút được lượng lớn khách du lịch và do đó giá trị kinh tế tính trên mỗi hecta rất cao.

1.2. TỔNG QUAN VỀ QUỸ BẢO VỆ PHÁT TRIỂN RỪNG

      1. 1.2.1. Khái niệm Quỹ bảo vệ và phát triển rừng

Quỹ bảo vệ và phát triển rừng là một tổ chức tài chính có nhiệm vụ tiếp nhận ủy thác tiền DVMTR từ các đối tượng phải trả tiền và thực hiện chuyển tiền ủy thác đến các đối tượng đối tượng cung ứng DVMTR.

Mục đích của Quỹ là huy động các nguồn lực xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng; Nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng của những người được hưởng lợi từ rừng hoặc có các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến rừng; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp.

      1. 1.2.2. Đặc điểm của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng

Đặc điểm của Quỹ BVPTR là một tổ chức tài chính hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, nhằm huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng. Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo nguyên tắc quản lý rừng bền vững; Kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; Kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có.

Tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng của những người được hưởng lợi từ rừng hoặc có các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến rừng;

Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp.

Nguồn vốn từ Quỹ BVPTR đầu tư, hỗ trợ cho các chương trình, dự án hoặc các hoạt động phi dự án mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư.

      1. 1.2.3. Vai trò của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.

Huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng;

Phân bổ kinh phí cho từng chương trình, dự án hoặc các hoạt động phi dự án theo kế hoạch hàng năm được phê duyệt; Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất và rừng phải tuân theo quy định.

Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa nhà nước với chủ rừng, giữa lợi ích kinh tế của chủ rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn thiên nhiên, giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài;

Có chính sách khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng.

Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của chủ rừng khác.

Kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện chương trình, dự án hoặc các hoạt động phi dự án được Quỹ hỗ trợ; đình chỉ, thu hồi kinh phí đã hỗ trợ khi phát hiện tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn vi phạm cam kết về sử dụng kinh phí hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật liên quan;

Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành, bổ sung, sửa đổi các quy định về đối tượng, hoạt động được hỗ trợ từ Quỹ BVPTR.

1.3. NỘI DUNG CỦA QUỸ BẢO VỆ PHÁT TRIỂN RỪNG

      1. 1.3.1. Nội dung thu của Quỹ bảo vệ phát triển rừng

a. Đối tượng thu của Quỹ bảo vệ phát triển rừng

– Nguồn tài chính ủy thác: bao gồm tiền dịch vụ môi trường rừng; tiền ủy thác của các tổ chức quốc tế; tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng, cụ thể:

+ Các cơ sở sản xuất thuỷ điện, các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch.

+ Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng.

+ Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước trong sản xuất; hấp thu và lưu giữ cacbon của rừng; dịch vụ cung ứng bãi đẻ; nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng để nuôi trồng thuỷ sản.

+ Các chủ rừng khi còn khai thác, kinh doanh gỗ trong những trường hợp sau: Tổ chức kinh tế được nhà nước giao rừng sản xuất không thu tiền sử dụng đất; Tổ chức kinh tế được nhà nước giao rừng sản xuất có thu tiền sử dụng rừng hoặc nhận chuyển nhượng rừng nhưng tiền sử dụng rừng, tiền chuyển nhượng rừng đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; hộ gia đình, cá nhân được giao rừng sản xuất không thu tiền sử dụng rừng.

+ Các cơ sở kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, dịch vụ sinh thái – môi trường rừng.

+ Các dự án đầu tư phải khai thác rừng để giải phóng mặt bằng và có yêu cầu phải trồng lại rừng nhưng không có điều kiện.

– Nguồn tài chính khác:

+ Tài trợ đóng góp tự nguyện của các tổ chức quốc tế; tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước;

+ Ngân sách hỗ trợ ban đầu khi thành lập;

+ Kinh phí các chương trình, dự án có quy định hoàn trả nộp Quỹ;

+ Lãi tiền gửi các tổ chức tín dụng;

+ Các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

b. Xây dựng dự toán thu

Căn cứ vào nhiệm vụ thu, phân cấp thu và mức thu đã được quy định. Xây dựng nguồn thu DVMTR dựa trên: Tổng hợp kế hoạch nộp tiền của các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng, lãi tiền gửi các tổ chức tín dụng; nguồn kết dư năm trước; các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Để xây dựng dự toán thu Quỹ BVPTR cần đảm bảo tính đúng, tính đủ cần đánh giá toàn diện và chính xác kết quả thực hiện trong năm trước, dựa trên cơ sở là dự toán thu đã được thông báo và khả năng thực hiện trong năm kế hoạch. Dự toán thu cũng cần dự báo các biến động có thể ảnh hưởng đến nguồn thu trong năm kế hoạch như thiên tai, hạn hán…Sau khi xây dựng dự toán được gửi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

c. Chấp hành dự toán thu

– Căn cứ vào kế hoạch thu đã xây dựng. Quỹ BVPTR tổ chức thu, đôn đốc các khoản tiền do các đối tượng sử dụng DVMTR nộp qua hệ thống các Ngân hàng thương mại nhằm tập trung nguồn thu kịp thời chi trả cho các đối tượng cung ứng DVMTR.

– Căn cứ vào chế độ kế toán tổ chức hạch toán thu theo đúng quy định đồng thời phân chia theo đúng tỷ lệ phân chia đối với từng khoản thu được các cấp có thẩm quyền quyết định. Việc hạch toán kế toán phải đảm bảo đúng niên độ kế toán.

– Quỹ BVPTR thường xuyên tổng hợp các báo cáo thu hàng tháng, năm gửi cơ quan quản lý tài chính và quản lý cấp trên để phục vụ công tác điều hành vĩ mô.

– Trong quá trình thực hiện thu, thường xuyên tiến hành kiểm tra, đối chiếu số liệu với các đơn vị sử dụng DVMTR giải quyết kịp thời những trường hợp sai sót nhằm đảm bảo tập trung kịp thời các nguồn thu về Quỹ BVPTR.

d. Công tác kiểm tra quản lý thu

Kiểm tra thực hiện kế hoạch đầu năm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Quỹ BVPTR tổng hợp so sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch được phê duyệt để đánh giá mức độ hoàn thành so với dự toán đã đề ra.

Đôn đốc, kiểm tra các đơn vị sử dụng DVMTR nộp tiền theo Hợp đồng ủy thác DVMTR, tờ khai quyết toán DVMTR và các hồ sơ khác có liên quan.

      1. 1.3.2. Nội dung chi của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\DCCT KON TUM\TA DIEU MINH

Hoàn thiện công tác quản lý thu chi tiền chi trả dịch vụ môi trường tại Qũy bảo vệ phát triển rừng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *