Hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện dần về lý luận cũng như thực tiễn là quá trình liên tục và lâu dài. Làm rõ đặc thù hoạt động của DN SXKD cà phê, từ đó nghiên cứu và xác định đặc điểm hoạt động cho vay DN SXKD cà phê, là một trong những vấn đề cần nghiên cứu.

Song song với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các NHTM cũng dần hoàn thiện các hoạt động của mình trong đó có hoạt động cho vay. Tỉnh Đăk Lăk là thủ phủ của cây cà phê, ở đây có rất nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh cà phê. Các doanh nghiệp này tồn tại và phát triển song hành cùng với hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại (NHTM).

Từ năm 2010, thấy được tầm quan trọng của việc cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê, Agribank chi nhánh thành phố Buôn Ma Thuột đã có những bước chuyển mình đúng đắn, tập trung đẩy mạnh hoạt động cho vay lĩnh vực này. Song hoạt động cho vay này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, song tại Chi nhánh chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.

Xuất phát từ các lý do đã trình bày và với mong muốn được góp phần vào sự phát triển của chi nhánh, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột” làm luận văn tốt nghiệp.

Mục tiêu của đề tài

– Góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản về hoạt động cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê của ngân hàng thương mại;

– Phân tích thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột;

– Đề xuất khuyến nghị hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột.

Từ mục tiêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra để giải quyết như sau:

– Đặc điểm doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê ? Đặc điểm cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê của ngân hàng thương mại ?

– Hoạt động cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê của ngân hàng thương mại bao gồm những vấn đề gì? Kết quả hoạt động này có thể phản ánh qua các tiêu chí nào? Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê của ngân hàng thương mại?

– Thực trạng cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam– Chi nhánh thành phố Buôn Ma Thuột trong thời gian qua diễn ra như thế nào? Chi nhánh đã đạt được những thành công gì? Những vấn đề nào còn tồn tại? Vì sao?

– Agribank Buôn Ma Thuột và các chủ thể liên quan cần làm gì để tiếp tục hoàn thiện hoạt động cho vay Doanh nghiệp sản xuât kinh doanh cà phê tại chi nhánh?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê của ngân hàng thương mại và thực tiễn hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột.

3.2. Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột, bao gồm tất cả các loại hình doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp tư nhân. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng.

+ Về không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột, bao gồm chi nhánh và các phòng giao dịch trực thuộc.

+ Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2017.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, học viên sẽ cố gắng vận dụng các phương pháp cụ thể sau:

a. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu: thu thập thông tin, dữ liệu từ giáo trình, bài giảng, các công trình nghiên cứu, quá trình chọn lọc so sánh; thu thập thông tin về tình hình kinh tế xã hội của thành phố Buôn Ma Thuột; thu thập thông tin Agribank chi nhánh thành phố Buôn Ma Thuột, số liệu thứ cấp như các báo cáo tại Agribank chi nhánh Buôn Ma Thuột, Agribank chi nhánh Bắc Đăk Lăk, NHNN Việt Nam chi nhánh tỉnh Đăk Lăk,… từ đó xử lý tổng hợp, sắp xếp hệ thống hóa nền lý luận làm cơ sở triển khai nghiên cứu thực trạng và đề xuất khuyến nghị.

b. Phương pháp hệ thống hóa: nghiên cứu các công trình nghiên cứu trước, nghiên cứu tài liệu, giáo trình chọn lọc nội dung, sắp xếp bố cục lại đảm bảo tính logic của lý luận, tạo nền tảng lý luận cho chương 2 và chương 3 của luận văn.

c. Phương pháp thống kê: sử dụng số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân bằng phương pháp so sánh theo thời gian, theo không gian, so sánh với mục tiêu đặt ra để nhận định phân tích và đánh giá.

d. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: phỏng vấn giám đốc chi nhánh, giám đốc phòng giao dịch, trưởng phòng kế hoạch kinh doanh, những cán bộ tín dụng lâu năm có kinh nghiệm tại Agribank chi nhánh Buôn Ma Thuột, tham khảo ý kiến về những thuận lợi, các vướng mắc trong quá trình cho vay DN SXKD cà phê trên địa bàn, nguyên nhân tại sao có những vướng mắc khó khăn đó.

e. Phương pháp phân tích diễn giải: mục tiêu của việc phân tích xác định rõ thực trạng của tình hình, đáng giá được những thành công, hạn chế, đồng thời xác định được nguyên nhân của thực trạng. Ngoài ra phương pháp này cũng sẽ được học viên vận dụng để giải thích rõ nội dung của các khuyến nghị đề xuất.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn còn 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê của Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột.

Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Buôn Ma Thuột.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP SXKD CÀ PHÊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. CHO VAY DOANH NGHIỆP SXKD CÀ PHÊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

      1. 1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp SXKD cà phê

Doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là một tổ chức  kinh tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ trên thị trường. Tuỳ theo đặc thù về lĩnh vực hoạt động, hình thức tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp có thể được hiểu dưới các thuật ngữ khác nhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng… Khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Từ khái niệm trên chúng ta thấy: Trước hết doanh nghiệp phải là chủ thể kinh tế độc lập, có hoặc không có tư cách pháp nhân, có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường và chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình. Thứ hai, tuỳ theo mục đích thành lập doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp có mục đích hoạt động khác nhau trừ một số ít các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích còn mục đích của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi ích kinh doanh.

Cũng theo Luật này, ở Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp sau: doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê là doanh nghiệp thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

      1. 1.1.2. Đặc điểm DN SXKD cà phê

Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, đem lại giá trị kinh tế lớn, được chính phủ khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, do đặc thù chung của ngành hàng nông sản, sản lượng cà phê phụ thuộc vào biến động của môi trường tự nhiên như khí hậu, thiên tai, mất mùa và dịch bệnh… Cây công nghiệp này đòi hỏi những điều kiện về thổ nhưỡng, thời tiết khí hậu khá khắt khe.

Sản xuất cà phê mang tính thời vụ nên hoạt động kinh doanh cà phê cũng mang tính chất mùa vụ, dù hoạt động tiêu dùng cà phê diễn ra quanh năm.

Bản chất cà phê là loại mặt hàng khó kiểm soát về số lượng, tần suất luân chuyển hàng hóa tại kho cao gây nhiều khó khăn trong quá trình giao nhận và quản lý về chất lượng cũng như kiểm đếm về số lượng.

Tuy là quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng Việt Nam không đóng góp vai trò lớn trong việc điều tiết giá cà phê. Hiện nay, các giao dịch mua bán cà phê tại Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào biến động giá trên sàn giao dịch quốc tế (sàn London đối với Robusta và New York đối với Arabica) và mức giá nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp trong nước. Giá cà phê biến động mạnh nên việc kinh doanh tạm trữ và ứng trước cho người mua chứa đựng rủi ro lớn.

      1. 1.1.3. Khái niệm, đặc điểm, phân loại cho vay DN SXKD cà phê của NHTM

a. Khái niệm cho vay DN SXKD cà phê

Theo Luật Tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” và “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

Từ khái niệm về cho vay nêu trên có thể rút ra khái niệm về cho vay của NHTM đối với DN SXKD cà phê là việc NHTM giao hoặc cam kết giao cho DN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích SXKD cà phê trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận (giữa NHTM và DN) với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

b. Đặc điểm cho vay DN SXKD cà phê

Thứ nhất, tính chất thời vụ: SXKD cà phê là hoạt động mang tính thời vụ, nên nhu cầu vay vốn của khách hàng DN SXKD cà phê trong quá trình kinh doanh không đồng đều trong năm. Nhu cầu đầu tư tăng nhanh khi vào vụ kinh doanh từ tháng 11 năm này đến tháng 6 năm sau. Khi hết vụ kinh doanh nhu cầu về vốn lại giảm xuống và dư tiền vào thời điểm không cần vốn đầu tư nhiều.

Thứ hai, nhu cầu vay vốn thường lớn và ngắn hạn: Giá trị lô hàng cà phê trong kinh doanh thường khá lớn nên nhu cầu vốn nói chung và nhu cầu vốn vay cũng thường khá lớn. Thời gian vay thường ngắn, đặc biệt đối với các DN chỉ hoạt động kinh doanh cà phê.

Thứ ba, tính rủi ro cao: Rủi ro trong cho vay đối với SXKD cà phê thường xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Điều kiện tự nhiên: Năng suất và chất lượng cà phê bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: Lượng mưa, thời điểm mưa, chế độ nắng, gió, sương mù, thiên tai dịch bệnh…Năng suất và chất lượng cà phê nhân các vụ mùa khác nhau dẫn đến giá khác nhau giữa các vụ, giá thay đổi ảnh hưởng đến nhu cầu về vốn vay và khả năng trả nợ của khách hàng.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Khả năng trả nợ của khách hàng còn phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ sản phẩm và giá cả hàng hóa trên thị trường, trong khi thị trường cà phê lại không ổn định, thị trường trong nước không quyết định được giá. Giá phụ thuộc phần lớn vào giá thế giới. Cà phê SX trong nước chủ yếu được xuất khẩu ra nước ngoài thông qua các sàn giao dịch quốc tế, các doanh nghiệp xuất khẩu chưa tiếp cận trực tiếp được với người tiêu dùng nước ngoài, sản phẩm cà phê của Việt Nam thường phải đi qua nhiều khâu trung gian nên lợi ích của các nhà sản xuất và xuất khẩu trong nước giảm.

Trình độ sản xuất của người sản xuất cà phê còn thấp: Nhìn chung, trình độ của người sản xuất cà phê còn thấp, lại chưa có nhiều kinh nghiệm phân tích biến động giá cả, kiến thức sản xuất hàng hóa còn thấp dẫn đến sản xuất kém bền vững, chất lượng hàng hóa còn thấp, sức cạnh tranh kém, thiếu sự hợp tác trong các khâu sản xuất.

c. Phân loại cho vay DN SXKD cà phê

+ Căn cứ theo phương thức cho vay

– Cho vay từng lần: Khi vay vốn, ngân hàng cho vay và khách hàng lập thủ tục vay vốn theo quy định và ký hợp đồng tín dụng. Phương thức này được áp dụng khi cho vay để bổ sung nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt trong sản xuất, đối với những khách hàng sản xuất kinh doanh không ổn định, nhu cầu vay trả không thường xuyên, có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần hoặc những khách hàng không có tín nhiệm cao đối với ngân hàng trong quan hệ tín dụng mà ngân hàng cảm thấy cần phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ, an toàn.

– Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là phương thức cho vay mà việc cho vay với thu nợ căn cứ vào quá trình nhập, xuất vật tư hàng hóa, ngân hàng cam kết cho DN vay với mức dư nợ tối đa trong một khoảng thờ gian nhất định. DN sẽ thực hiện nhận vốn vay khi có nhu cầu vốn phát sinh để nhập vật tư hàng hóa và thu nợ khi khách hàng có thu nhập từ việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Phương thức này áp dụng cho các khách hàng thường xuyên có nhu cầu vay trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tốc độ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, có tín nhiệm với ngân hàng trong quan hệ tín dụng.

Ngoài ra NHTM còn có thể cho vay DN SXKD cà phê bằng các phương thức khác: cho vay hợp vốn, cho vay bao thanh toán, cho vay theo dự án v.v…

+ Căn cứ theo thời hạn cho vay:

– Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng.

– Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng.

– Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng trở lên.

+ Căn cứ theo hình thức bảo đảm tiền vay

– Cho vay đảm bảo bằng tài sản: Là loại hình cho vay dựa trên các bảo đảm như thế chấp hay cầm cố bằng tài sản của chính khách hàng hoặc của bên thứ ba. Đối với các khách hàng không thể chứng minh nguồn trả nợ dự phòng bằng chính năng lực và triển vọng tài chính của mình hoặc không có người bảo lãnh, vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm bằng tài sản.

– Cho vay đảm bảo không bằng tài sản: Là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố. Đối với những khách hàng tốt, có năng lực và triển vọng tài chính lành mạnh, chứng minh được nguồn trả nợ dự phòng bằng năng lực tài chính của chính mình hay của người bảo lãnh, thì NH có thể cho vay bảo đảm không bằng tài sản.

+ Căn cứ vào loại hình DN SXKD cà phê

– Cho vay DN nhà nước

– Cho vay công ty trách nhiệm hữu hạn

– Cho vay công ty cổ phần

– Cho vay công ty hợp danh

– Cho vay DN tư nhân

+ Căn cứ vào hoạt động cụ thể SXKD cà phê

– Cho vay để sản xuất cà phê.

– Cho vay để kinh doanh (mua bán) cà phê, bao gồm cả hoạt động mua để xuất khẩu, bán ra nước ngoài.

      1. 1.1.4. Rủi ro trong cho vay DNSXKD cà phê

Cho vay DNSXKD cà phê NHTM thường phải đối mặt với nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động v.v…, nhưng thường xuyên van tập trung nhất vẫn là rủi ro tín dụng.

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của các tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.

Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê của NHTM là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của NHTM do DNSXKD cà phê không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.

Rủi ro tín dụng gây ra nhiều hệ lụy đối với NH cho vay, làm tổn thất vốn, giảm thu nhập, tăng chi phí, làm giảm khả năng thanh khoản, ảnh hưởng xấu đên hoạt động và kết quả kinh doanh, làm tổn thương uy tín của NH. Vì vậy trong hoạt động cho vay, NH luôn hoạch định mục tiêu tăng trưởng quy mô cho vay đồng thời với mục tiêu mức độ RRTD giới hạn có thể chấp nhận.

1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP SXKD CÀ PHÊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

      1. 1.2.1. Tổ chức quản lý hoạt động cho vay của NHTM

NHTM thường lựa chọn một trong hai mô hình: mô hình tập trung van mô hình chuyên môn hóa trong tổ chức quản lý hoạt động cho vay .

Trong mô hình tập trung toàn bộ các công việc nghiệp vụ: quan hệ và chăm sóc khách hàng, xếp hạng tín dụng nội bộ, thẩm định tín dụng, thực hiện cho vay, kiểm tra giám sát sau khi cho vay, quản trị rủi ro v.v…. được phân công thực hiện tập trung bởi một bộ phận. Mỗi chuyên viên phải thực hiện nhiều công việc chuyên môn nghiệp vụ. Cách tổ chức này thường gọn nhẹ nhưng chất lượng công việc không cao, đòi hỏi chuyên viên phải đồng thời am hiểu nhiều nghiệp vụ khác nhau, thường tạo ra tình trạng quá tải trong công việc v.v…. thường được các NH có quy mô nhỏ vận dụng.

Trong mô hình chuyên môn hóa các công việc chuyên môn nghiệp vụ được chia tách và phân công thực hiện bởi một số bộ phận; chẳng hạn bộ phận quan hệ khách hàng, bộ phận tín dụng, bộ phận thẩm định, bộ phận quản trị rủi ro v.v….Cách tổ chức này có tính chuyên môn hóa cao hơn, chất lượng công việc thường tốt hơn nhưng số lượng nhân sự phải tương đối nhiều, phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận để thời gian xử lý công việc không bị kéo dài v.v… thường được vận dụng bởi các NH có quy mô lớn.

Trong thực tế mỗi NHTM tùy thuộc vào điều kiện nguồn lực của mình, thị trường cho vay , khách hàng vay vốn v..v… sẽ lựa chọn cách tổ chức quản lý hoạt động cho vay phù hợp.

      1. 1.2.2. Nội dung hoạt động cho vay DNSXKD cà phê của NHTM

a. Mục tiêu cho vay

Cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê là cũng là một trong nhiều hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, thông thường thông qua hoạt động này Ngân hàng thương mại hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau, dưới đây là một số mục tiêu mà ngân hàng thương mại hướng đến:

Tăng trưởng qui mô và thị phần cho vay: Một trong những mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng thương mại là tăng trưởng về qui mô, qui mô ngân hàng nói lên vị thế của ngân hàng trên địa bàn, qui mô lớn sẽ dễ dàng thu hút khách hàng, uy tín và thương hiệu của ngân hàng được nâng lên.

Khi qui mô tăng lên đồng nghĩa với việc tài sản, thị phần tăng và tăng năng lực cạnh tranh: Cùng với quá trình hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, việc nới lỏng các điều kiện kinh doanh, loại bỏ cách nhìn khác về các thành phần kinh tế, mở rộng thị trường thì số lượng các NHTM đã gia tăng nhanh về số lượng, đi đôi với sự có mặt của các ngân hàng thương mại nước ngoài, nên mức độ cạnh tranh càng cao. Bảo đảm năng lực cạnh tranh trở thành yêu cầu cấp thiết của ngân hàng thương mại.

Bảo đảm cơ cấu cho vay phù hợp. Cơ cấu cho vay được phản ánh qua cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn cho vay, theo hình thức bảo đảm, theo phương thức cho vay v.v….Tùy thuộc vào thực tê kết quả cho vay, NH sẽ xác định định hướng điều chỉnh cơ cấu cho vay phù hợp nhằm bảo đảm kết quả hoạt động cho vay tốt hơn.

Kiểm soát được rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng: Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn những rủi ro mà khi xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của ngân hàng. Do đó, đi đôi với mục tiêu tăng trưởng quy mô cho vay NH phải hoạch định và kiểm soát được rủi ro tín dụng trong giới hạn chấp nhận được nhằm đạt được kết quả kinh doanh tốt nhất có thể.

Nâng cao chất lượng dịch vụ: Một ngân hàng muốn chiếm lĩnh thị phần cho vay lớn và tạo được lòng tin của khách hàng thì nâng cao chất lượng dịch vụ là yếu tố không thể thiếu. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ không chỉ nhằm thu hút khách hàng, quảng bá hình ảnh của ngân hàng ra bên ngoài, đồng thờithông qua việc đo lường sự hài lòng của khách hàng vay vốn đối với sản phẩm cho vay của mình thì ngân hàng biết được mức độ cung ứng và khả năng đáp ứng các dịch vụ của mình đối với thị trường như thế nào. Để từ đó có biện pháp cải tiến sản phẩm, tăng chất lượng cung ứng dịch vụ cho vay, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của khách hàng vay vốn.

Gia tăng thu nhập: Trên cơ sở tăng cường cho vay và kiểm soát rủi ro sẽ tăng trưởng thu nhập, tối đa hóa lợi nhuận. Vì mục tiêu cao nhất của kinh doanh là lợi nhuận, đây là chỉ tiêu hàng đầu mà các NHTM hướng đến.

Trong từng thời kỳ tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh, NH sẽ lựa chọn một số mục tiêu trọng tâm.

b. Các biện pháp mà NHTM thường vận dụng để triển khai hoạt động cho vay

– Nghiên cứu thị trường, củng cố và phát triển nền khách hàng

Nghiên cứu thị trường, thu thập thông tin về khách hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng và các thông tin liên quan giúp NH có cơ sở để thực hiện phân nhóm khách hàng, hoạch định và thực thi chính sách khách hàng phù hợp trong cho vay, lựa chọn được cách ứng xử thích hợp đối với từng nhóm khách hàng; bảo đảm củng cố van phát triển quan hệ với khách hàng hiện hữu đồng thời gầy dựng và thiết lập quan hệ với khách hàng tiềm năng.

– Hoạch định và thực thi chính sách marketing phù hợp trong hoạt động cho vay.

Chính sách sản phẩm: NH phải quan tâm việc cải tiến các sản phẩm cho vay hiện có và phát triển sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng vay. Nhiều DN SXKD cà phê có hoạt động xuất khẩu nên NH thường xây dựng các gói sản phẩm kết hợp: cho vay và tài trợ thanh toán quốc tế, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn và một số dịch vụ tài chính khác của DN trong hoạt động kinh doanh của họ.

Chính sách giá: NH phải hoạch định và thực thi chính sách lãi suất cho vay và giá phí dịch vụ liên quan vừa bảo đảm tính cạnh tranh đồng thời thỏa mãn được mục tiêu kinh doanh của NH. Thông thường NH vận dụng mức lãi suất cho vay van giá phí dịch vụ liên quan tùy thuộc vào từng nhóm khách hàng theo khả năng rủi ro, mức độ quan hệ v.v….

Chính sách phân phối: Nhìn chung có 2 kênh phân phối cơ bản: kênh phân phối truyền thống và kênh phân phối điện tử. Trong kênh phân phối truyền thống DN muốn vay vốn phải giao dịch với nhân viên của NH để đề xuất và thực hiện các thủ tục cần thiết trong quá trình vay vốn, Vì vậy kênh phân phối truyền thống phụ thuộc vào màng lưới chi nhánh và các phòng giao dịch của NH. Kênh phân phối điện tử giúp khách hàng vay vốn và mua các dịch vụ khác không cần phải giao dịch trực tiếp với nhân viên NH mà chỉ thông qua các hệ thống mạng như internet- banking, mobile – banking v.v…; song cách phân phối này đòi hỏi tính an toàn van bảo mật rất cao.

Chính sách cổ động, truyền thông và chăm sóc khách hàng: Cổ động truyền thông có vai trò quan trọng giúp khách hàng hiểu biết về NH và chính sách kinh doanh của NH, trong đó có chính sách cho vay. Nh thường thực hiện hoạt động này bởi nhiều phương thức và phương tiện khác nhau. Hoạt động chăm sóc khách hàng cũng rất quan trọng đối với khách hàng vay vốn nhằm củng cố van phát triển quan hệ với khách hàng.

Hoạch định và thực thi chính sách quản trị RRTD nói chung và kiểm soát RRTD nói riêng.

Về nhân sự: Nhân sự lãnh đạo và đội ngũ chuyên viên trực tiếp thực hiện hoạt động cho vay có vai trò quan trọng quyết định đến kết quả của hoạt động này. Do đó các NH luôn đặt ra yêu cầu nâng cao kỹ năng trình độ, phẩm chất đạo đức của cán bộ nhân viên từ đó góp phần mang lại hiệu quả kinh doanh của đơn vị.

Về qui trình cho vay: Là trình tự những bước công việc cần phải tuân thủ, thực hiện một cách thống nhất trong hoạt động cho vay. Quy trình đơn giản, chặt chẽ giúp ngân hàng và khách hàng hoàn thiện hồ sơ cho vay một cách rõ ràng, chính xác; tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng tiếp cận vốn vay của ngân hàng đồng thời giúp NH có thể kiểm soát được rủi ro.

Về cơ sở vật chất và công nghệ của ngân hàng: NH phải luôn quan tâm đến hoạt động đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ của mình. Dù rằng đây là những tài sản không trực tiếp sinh lời nhưng thật sự cần thiết trong hoạt động kinh doanh của NH.

– Hoạch định và thực thi chính sách quản trị rủi ro tín dụng nói chung và kiểm soát rủi ro tín dụng nói riêng trong hoạt động cho vay.

      1. 1.2.3. Tiêu chí phản ánh kết quả hoạt động cho vay DNSXKD cà phê của NHTM

a. Tiêu chí phản ánh quy mô cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê

Quy mô cho vay được phản ánh thông qua các tiêu chí như sau:

– Dư nợ cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê.

– Số lượng khách hàng DN vay sản xuất kinh doanh cà phê.

– Dư nợ cho vay bình quân tính trên một DN SXKD cà phê.

b. Thị phần cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê của ngân hàng

Thị phần dư nợ cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê của ngân hàng là tỷ trọng dư nợ cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê đó so với tổng dư nợ cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê của các ngân hàng khác trên cùng địa bàn kể cả cho vay sản xuất kinh doanh cà phê của chính ngân hàng.

c. Cơ cấu cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê

Cơ cấu cho vay là tổng hợp tỷ trọng dư nợ cho vay DN sản xuất kinh doanh cà phê của NHTM theo một số tiêu chí phân nhóm khác nhau, chẳng hạn:

– Cơ cấu cho vay theo thời hạn cho vay.

– Cơ cấu cho vay theo phương thức cho vay.

– Cơ cấu cho vay theo loiaj hình DN.

– Cơ cấu cho vay theo hình thức đảm bảo v.v…

d. Chất lượng dịch vụ cho vay

Chất lượng dịch vụ cho vay của ngân hàng thường được đánh giá qua các tiêu chí: thủ tục vay vốn, thời gian chờ đợi, sự thuận tiện trong giao dịch, tính chuyên nghiệp của nhân viên, thái độ của nhân viên v.v… được phản ánh tập trung qua mức độ hài lòng của khách hàng DN vay vốn.

Chất lượng dịch vụ có thể được phản ánh qua khảo sát điều tra ý kiến của chính khách hàng vay vốn hoặc (và) được đánh giá bên trong bởi chính nội bộ của NH.

e. Mức độ rủi ro tín dụng

Mức độ rủi ro tín dụng trong cho vay của NH thường được phản ánh qua các chỉ tiêu:

– Cơ cấu dư nợ cho vay DN SXKD cà phê theo khả năng và mức độ rủi ro.

– Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay DN SXKD cà phê

– Tỷ lệ dự phòng xử lý rủi ro cụ thể trong cho vay DN SXKD cà phê.

– Tỷ lệ nợ xóa ròng trong cho vay DN SXKD cà phê.

f. Kết quả tài chính

Kết quả tài chính của hoạt động cho vay được phản ánh qua thu nhập và lợi nhuận của hoạt động cho vay, song do có nhiều khoản chi phí chung nên việc ước tính lợi nhuận của hoạt động cho vay thường khó khăn và không chính xác. Vì vậy kết quả tài chính của hoạt động cho vay thường được đánh giá qua thu nhập hoặc thu nhập ròng từ hoạt động này.

Các tiêu chí này sẽ được so sánh theo thời gian, so sánh với các NH khác, so sánh với mục tiêu mà NH đã đề ra trong kế hoạch để đánh giá kết quả hoạt động cho vay của NH

      1. 1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNSXKD cà phê của NHTM

a. Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng

Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: Ngân hàng muốn tồn tại, phát triển thì phải có phương hướng, chiến lược kinh doanh. Chiến lược kinh doanh càng phù hợp thì hoạt động cho vay ngày càng được mở rộng.Trên cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách hàng, về đối thủ cạnh tranh, xác định vị thế của Ngân hàng trên địa bàn hoạt động; Ngân hàng phải xác định nên tăng cường hoạt động cho vay nào là hợp lý, nên chú trọng hơn vào những hướng nào có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm năng giúp mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng.

Chính sách cho vay: Chính sách cho vay bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức cho vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử lý các khoản vay có vấn đề…tất cả các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vay của ngân hàng. Nếu như tất cả những yếu tố thuộc chính sách cho vay đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì Ngân hàng đó sẽ thành công trong việc tăng cường hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng tín dụng. Ngược lại, những yếu tố này bất hợp lý, cứng nhắc, không theo sát tình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho vay của mình. Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được khách hàng, thực hiện tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay. Nhưng nếu lãi suất không phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng.

Nguồn vốn cho vay của ngân hàng: Ngân hàng cho vay bằng nguồn vốn huy động của mình. Khi nguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì ngân hàng có thêm nhiều vốn cho khách hàng vay, điều đó cũng có nghĩa là hoạt động cho vay của ngân hàng được tăng cường và mở rộng. Ngược lại nếu NH khó khăn trong huy động vốn, ngân hàng sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội cho vay, lợi nhuận của ngân hàng sẽ không cao và việc tăng cường hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế.

Năng lực quản trị điều hành của ban lãnh đạo NH: Yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với NH. Thực tế chứng minh, nhiều ngân hàng thương mại tuy có được những nguồn lực khan hiếm và giá trị mà các đối thủ cạnh tranh không có như trụ sở khang trang đặt ở vùng tập trung nhiều khách hàng, vốn tự có lớn, thu nhận được nhiều cán bộ chuyên môn giỏi; song do ban điều hành lãnh đạo không nhạy bén, không nắm bắt được tình hình, không điều chỉnh được chiến lược và chính sách kinh doanh phù hợp, không sử dụng đội ngũ chuyên viên đúng sở trường… dẫn đến lãng phí các nguồn lực ngân hàng mình có, giảm thấp hiệu quả kinh doanh, không thành công trong hoạt động của NH.

Cơ sở vật chất trang thiết bị: Cơ sở vật chất thiết bị cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng. Nếu cơ sở vật chất thiết bị mà lạc hậu thì các công việc của ngân hàng sẽ được xử lý kém, chậm chạp; các hoạt động của ngân hàng được thực hiện khó khăn. Điều đó làm cho Ngân hàng tụt hậu, kém phát triển, không thu hút được nhiều khách hàng sẽ làm hạn chế hoạt động cho vay. Ngược lại việc trang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến phù hợp với phạm vi và quy mô hoạt động, phục vụ kịp thời các nhu cầu khách hàng với chi phí cả hai bên đều có thể chấp nhận được sẽ giúp ngân hàng tăng cường khả năng cạnh tranh, thực hiện tốt mục tiêu tăng cường hoạt động cho vay.

Số lượng và chất lượng nhân sự của NH: Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân hàng chính là hình ảnh của ngân hàng; cho nên với những kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn của mình, nhân viên ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị dịch vụ. Đa số các ý tưởng cải tiến hoạt động kinh doanh là được đề xuất bởi các nhân viên ngân hàng; đây là lực lượng chủ yếu truyền thông tin từ khách hàng, từ đối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng. Ngoài ra đạo đức nghề nghiệp cũng là yếu tố quan trọng mà người làm nghề ngân hàng bắt buộc phải có. Vì vậy NH quan tâm thường xuyên đến công tác tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, đề bạt bổ nhiệm. lương thưởng, khen thưởng và kỷ luật v.v….

b. Nhóm nhân tố bên ngoài Ngân hàng

Tình hình kinh tế xã hội: Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Nó tạo môi trường rất thuận lợi để mở rộng hoạt động cho vay. Bất cứ một ngân hàng nào cũng chịu sự chi phối của các chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn nền kinh tế phát triển ổn định, doanh nghiệp làm ăn tốt thì xã hội có nhiều nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nên nhu cầu vay vốn tăng. Mặt khác nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng, thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân và tạo khả năng tiết kiệm do đó tạo triển vọng cho vay hộ kinh doanh và cho vay tiêu dùng. Ngược lại nền kinh tế suy thoái, dẫn đến nền kinh tế giảm khả năng hấp thụ vốn dẫn đến dư thừa ứ đọng vốn, không những hoạt động cho vay không mở rộng mà còn bị thu hẹp.

Môi trường pháp lý: Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật. Nếu những quy định của pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, có nhiều kẽ hở thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng trong các hoạt động nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Với những văn bản pháp luật đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng yên tâm hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực cho vay. Đây là cơ sở pháp lý để ngân hàng khiếu nại, tố cáo khi có tranh chấp xảy ra, giúp ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay. Sự thay đổi những chủ trương chính sách về ngân hàng cũng gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp cũng như các hộ kinh doanh. Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu một cách đột ngột gây xáo trộn hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến các doanh nghiệp và hộ kinh doanh không tiêu thụ hết được sản phẩm hay chưa có phương án kinh doanh mới dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi. Do đó hệ thống pháp luật, hành lang pháp lý cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại.

Nhân tố thuộc về khách hàng: khả năng tài chính và nhu cầu vay vốn, năng lực kinh doanh của DN, đạo đức tài chính của người vay ….

Khả năng tài chính là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng, đưa đến quyết định cho vay của các ngân hàng. Khách hàng có nguồn vốn, khả năng tài chính tốt là điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị, sản xuất có hiệu quả, mang lại lợi nhuận và có thể thanh toán các khoản vay cho ngân hàng.

Năng lực quản trị điều hành kinh doanh quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN nên cũng ảnh hưởng quyết định đến kết quả hoạt động cho vay của NH.

Đạo đức tài chính của người vay: Đạo đức tài chính của người vay luôn là yếu tố mà NH phải quan tâm. Trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếm đoạt vốn, không hoàn trả nợ vay mặc dù vẫn có khả năng tài chính trả nợ. Một số trường hợp người vay còn lừa đảo NH nhưng NH không phát hiện được Điều này gây ra tổn thất không nhỏ cho ngân hàng.

Đối thủ cạnh tranh: Ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh tranh. Môi trường kinh doanh mà cạnh tranh càng khốc liệt sẽ gây nhiều khó khăn trong hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của NH. Nếu đối thủ cạnh tranh chiếm ưu thế hơn so với ngân hàng thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn, thậm chí khách hàng của ngân hàng cũng sẽ chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ cạnh tranh để có chính sách phù hợp là vô cùng quan trọng v.v…

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DN SXKD CÀ PHÊ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

      1. 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
      2. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức và quản lý của Chi nhánh
      3. 2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh
      4. 2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DN SXKD CÀ PHÊ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\TRAN CHIEN THANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *