Nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường trung học phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang đi những bước đầu tiên vào thiên niên kỷ thứ ba – thiên niên kỷ mà nhiều biến động đang diễn ra trong mọi lĩnh vực đời sống của xã hội. Một trong số lĩnh vực có nhiều thay đổi nhất phải kể đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Ở mỗi quốc gia trên thế giới, giáo dục – đào tạo được xác định là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Theo tính toán của các nhà khoa học, các nhà chiến lược, các nhà hoạch định chính sách, một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải hội tụ đủ ba điều kiện: kỹ thuật hiện đại, vốn và con người. Ba điều kiện này có mối quan hệ mật thiết với nhau, song suy cho cùng, nhân tố con người là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định.
Ở Việt Nam, sự nghiệp giáp dục – đào tạo đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Chính vì vậy, trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định “ giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng nhận định: “…Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.
Với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của cả xã hội, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đạt được những thành tựu quan trọng về quy mô, chất lượng giáo dục các cấp; công tác quản lý; đội ngũ nhà giáo; hợp tác quốc tế,…
Bên cạnh đó, lĩnh vực này còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót và yếu kém. Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, nhất là đào tạo đại học, dạy nghề và giáo dục trung học phổ thông chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khả năng chủ động sáng tạo của học sinh THPT còn hạn chế. Đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực. Công tác quản lý còn nhiều bất cập. Nội dung, phương pháp giáo dục còn lạc hậu. Các nguyên lý giáo dục chưa được thực hiện đầy đủ. Nhiều hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc dư luận như: bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục học tập, tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng học thêm- dạy thêm, công tác thu- chi trong giáo dục…
Nguyên nhân chủ quan của những hạn chế, yếu kém, thiếu sót trên là các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng chưa nhận thức và thực hiện đầy đủ quan điểm “ giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước và toàn dân”, “ phát triển giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu”, vì vậy, chưa quan tâm đúng mức và tổ chức thực hiện hiệu quả để phát triển lĩnh vực hết sức quan trọng này. Tư duy về giáo dục và đào tạo chậm đổi mới, không theo kịp sự phát triển của đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; chậm khắc phục các bất hợp lý trong cơ chế, phương thức hoạt động, chưa phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sơ giáo dục nên chưa tạo động lực mới từ bên trong của ngành giáo dục, đào tạo; bên cạnh đó các cơ sở giáo dục còn chậm nâng cấp,chất lượng đội ngũ chưa đáp ứng sự tiến bộ của khoa học công nghệ, các phong trào thi đua đã được đẩy mạnh nhưng hiệu quả chưa cao…
Nằm trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, giáo dục trung học thuộc hệ thống giáo dục phổ thông. Trường THPT có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng. Trường hoạt động nhằm mục đích thực hiện các chức năng giáo dục, góp phần quản lý trật tự xã hội và tạo nguồn đào tạo nhân lực cho đất nước.
Hiệu trưởng các trường THPT là người có vai trò rất quan trọng; là người trực tiếp quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường và cung cấp dịch vụ giáo dục cho xã hội, như: quản lý hành chính, quản lý tài chính, tài sản của nhà trường, quản lý tổ chức bộ máy, quản lý chuyên môn, là người tham mưu, đề xuất các giải pháp và cũng là người tổ chức kết hợp giữa các lực lượng gia đình – nhà trường và xã hội, góp phần rất lớn vào sự thành công của nhà trường.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, chất lượng giáo dục thành phố Đà Nẵng từng bước được nâng lên, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội, chưa làm thoả mãn được nhu cầu và nguyện vọng của quần chúng nhân dân Thành phố, đặc biệt là giáo dục THPT. Yêu cầu thực tiễn về GD&ĐT của thành phố Đà Nẵng đang đặt ra những vấn đề bức xúc phải giải quyết như việc quản lý tài chính và tài sản công, quản lý nhân sự, quản lý về chuyên môn, đặc biệt là vấn đề nhận thức về trách nhiệm và quyền hạn của Hiệu trưởng trường THPT. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng năng lực quản lý của Hiệu trưởng ở các trường THPT để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý của Hiệu trưởng là vấn đề cấp thiết phải được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hiện nay.
Thực tế cho thấy, đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT thành phố Đà Nẵng đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới GD&ĐT của Thành phố. Qua sự nghiệp đổi mới GD&ĐT mà đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) ngày càng trưởng thành về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT thành phố Đà Nẵng hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt về năng lực quản lý, chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường trung học phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng năng lực quản lý của hiệu trưởng các trường THPT công lập ở thành phố Đà Nẵng; luận văn đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước nhằm nâng cao năng lực quản lý cho Hiệu trưởng trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ
– Nghiên cứu lý luận về năng lực và năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT;
– Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;
– Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý cho Hiệu trưởng trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT và năng lực quản lý của họ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Năng lực quản lý của Hiệu trưởng trường THPT công lập thành phố Đà Nẵng, ( Luận văn chỉ nghiên cứu những năng lực sau đây: Tiêu chí 11: Phân tích và dự báo.Tiêu chí 13: Thiết kế và định hướng triển khai.Tiêu chí 15: Lập kế hoạch hoạt động.Tiêu chí 16: Tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ.Tiêu chí 21: Quản lý công tác thi đua, khen thưởng.Tiêu chí 23: Kiểm tra đánh giá)
– Giới hạn về thời gian nghiên cứu: từ năm học 2011-2012 đến nay.
– Giới hạn về không gian: Các trường TH PT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về năng lực quản lý; xây dựng và phát triển đội ngũ công chức nói chung và đội ngũ công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn cụ thể sau:
– Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu, các văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: các công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các báo khoa học, sách, đề tài nghiên cứu; các Nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và Đào tạo về Hiệu trưởng và công tác nâng cao năng lực quản lý cho Hiệu trưởng trường THPT.
– Phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, tổng hợp:
Nghiên cứu không chỉ cung cấp các dữ liệu mà còn đánh giá, phân tích trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu.
Phương pháp so sánh, đối chiếu cho phép chỉ ra được những điểm chung, tương đồng, cũng như sự khác biệt giữa các đối tượng nghiên cứu, trong những thời điểm khác nhau.
Trong nghiên cứu này, việc so sánh được thực hiện trên cơ sở đối chiếu (1) về đối tượng: so sánh giữa việc quản lý công sở (cơ quan nhà nước nói chung) với quản lý trường THPT (với tư cách là một đơn vị sự nghiệp), giữa lý luận và thực tiễn, giữa năng lực quản lý của cá nhân lãnh đạo nhà trường trong mối quan hệ với quản lý nói chung; (2) về thời gian: so sánh giữa năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT thành phố Đà Nẵng trước và hiện nay.
– Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Phương pháp này được thực hiện bằng việc xây dựng các bảng hỏi dành cho đối tượng nghiên cứu dùng cho lãnh đạo, chuyên viên Sở GD&ĐT, giáo viên, các Hiệu trưởng trường THPT.
– Phối hợp các phương pháp:
Trên cơ sở nhận thức rõ về các ưu, nhược điểm của từng phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp thực hiện đồng thời các phương pháp trên nhằm tận dụng các ưu điểm cũng như giảm thiểu các hạn chế của mỗi phương pháp, tạo ra các dự kiến có ý nghĩa và đáng tin cậy hơn cho việc phân tích, lập luận.
– Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
6. Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của đề tài có một số đóng góp sau:
– Về lý luận: Hệ thống hoá những lý luận cơ bản về năng lực, năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT.
– Về chính sách: Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng tham khảo cho hoạch định các chính quy, quy định liên quan của Bộ giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT Đà Nẵng và phòng GD&ĐT các quận, huyện thành phố Đà Nẵng.
– Về thực tiễn: Phân tích, làm rõ thực trạng và nguyên nhân hạn chế về năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng; Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực quản lý cho Hiệu trưởng trường THPT công lập trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một tài liệu để tham khảo cho các nhà xây dựng chính sách, các nhà quản lý giáo dục đối với THPT; cho sinh viên, học viên của Học viện Hành chính Quốc gia khi nghiên cứu về quản lý nhà nước về GD&ĐT.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
– Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ đóng góp vào quá trình hoàn thiện năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
– Về thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu cho các nhà quản lý trong việc sử dụng và phát triển nguồn nhân lực.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực, năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông công lập
Chương 2. Thực trạng năng lực quản lý của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC, NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC
1.1.1.1. Năng lực
a. Khái niệm
Trong xã hội, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cơ bản để phát triển kinh tế -xã hội. Phát triển con người là khai thác, phát huy cao nhất các năng lực tiềm ẩn bên trong của con người. Mỗi cá nhân cần nhận thức được các giá trị thực sự của bản thân, hiểu được năng lực của mình, nỗ lực tìm kiếm các cơ hội, điều kiện để khai thác và phát huy năng lực tiềm ẩn của mình. Bên cạnh đó, xã hội cũng cần phải tạo ra những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi cho mỗi người phát huy được năng lực tối đa của mình.
Theo từ điển tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học [39, tr.376] thì năng lực được hiểu là: khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Năng lực còn được hiểu là khả năng làm việc tốt [39, tr.376]; Năng lực là sức làm việc [41, tr232].
Theo nghĩa rộng, năng lực cán bộ là khả năng làm việc hay khả năng lao động, là toàn bộ các thuộc tính thể lực và tinh thần của con người cần thiết để lao động có ích cho xã hội, được hình thành do sự phát triển về thể chất và văn hóa của cá nhân, do trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, do nắm được các kỹ năng và tài quan hệ trong lao động [29, tr.70].
Theo nghĩa hẹp, năng lực cán bộ là khả năng hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, nó bao hàm kiến thức, kỹ năng và nhân cách. Đó là tổng hợp các yếu tố chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá nhân, yếu tố tiềm năng hoặc thiên bẩm nâng cao khả năng làm việc.
Năng lực luôn được xác định trong một điều kiện, hoàn cảnh nhất định, với nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, khi đánh giá về năng lực phải gắn với điều kiện, môi trường làm việc. Những cá nhân có kiến thức, kỹ năng và thái độ như nhau nhưng làm việc ở những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sẽ có sự thể hiện, bộc lộ và phát huy năng lực khác nhau. Nếu chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng khi đánh giá năng lực mà không chú ý đến môi trường, điều kiện làm việc là một sự phiến diện. Do vậy, dưới góc độ đánh giá so sánh, chỉ những người cùng làm việc trong một môi trường hoặc các môi trường làm việc tương đối giống nhau thì mới có thể so sánh năng lực giữa họ một cách chính xác.
Từ phân tích ở trên, tác giả cho rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết – kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm và sự sẵn sàng hành động – thái độ cá nhân.
b. Các yếu tố cấu thành năng lực
Năng lực của cán bộ được hình thành và phát triển trong quá trình thực thi công việc; được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó kiến thức, kỹ năng, thái độ là ba yếu tố cơ bản nhất.
– Về kiến thức, là những hiểu biết khoa học cơ bản trên các lĩnh vực trong tự nhiên và trong xã hội. Những hiểu biết này có được là do quá trình giáo dục, đào tạo, học tập ở trường lớp hoặc do tự học tập với các hình thức khác nhau. Nhờ những kiến thức cơ bản này mà cá nhân có sự nhìn nhận vấn đề khách quan, khoa học, có khả năng quan sát, nhận xét,tư duy, xét đoán và quyết định hành động phù hợp, kịp thời và đúng thời điểm.
Lý luận chính trị là một nội dung nhận thức quan trọng của mỗi cán bộ. Với vai trò là công bộc của dân đòi hỏi Hiệu trưởng phải nhận thức, quán triệt sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức về chủ nghĩa xã hội của nước ta, từ đó trau dồi quyết tâm và nhiệt tình cách mạng, công tác và cống hiến, góp phần xây dựng Tổ quốc.
Có lý luận tốt chưa đủ, yêu cầu đặt ra là Hiệu trưởng phải vừa có trình độ lý luận vững vàng, vừa bám sát thực tiễn, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn. Trong điều kiện, hoàn cảnh mới hiện nay, Hiệu trưởng phải tìm hiểu, phân tích sâu sắc để nhận thức một cách bản chất, khoa học các quá trình kinh tế- xã hội đang diễn ra, phải thu thập đầy đủ các dữ liệu để giải các bài toán do thực tiễn đề ra.
– Về kỹ năng, là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đó được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.
Như vậy, trên nền tảng kiến thức đã có và kinh nghiệm tích lũy, Hiệu trưởng cần có kỹ năng khác nhau. Đối với Hiệu trưởng cần các kỹ năng chỉ đạo, điều hành; kỹ năng hoạch định chiến lược, chính sách…
Kỹ năng thực thi công vụ hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và thực thi nhiệm vụ. Chỉ có tự bản thân Hiệu trưởng thông qua thực hành thì mới có thể định hình và nâng cao kỹ năng của cá nhân mình. Các kỹ năng quản lý trường học đòi hỏi vận dụng rất linh hoạt. Vì vậy, trước hết Hiệu trưởng phải được huấn luyện, hướng dẫn thực hiện các kỹ năng cơ bản và từng bước hoàn thiện, nâng cao.
– Về thái độ thực thi công vụ, là sự đánh giá đúng, sai và sự nỗ lực tự thân, sự cố gắng, mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với công việc mà mình đang thực hiện.
Thái độ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực quản lý của Hiệu trưởng. Nhiều Hiệu trưởng có trình độ, kiến thức tốt, kỹ năng vững nhưng không hoàn thành được nhiệm vụ do có thái độ không đúng. Đó có thể là sự chủ quan, cẩu thả, bất cẩn, thiếu ý thức trách nhiệm hoặc thậm chí cố ý làm trái vì các mục đích, động cơ khác.
Tuy nhiên, thái độ là một phẩm chất thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân. Chúng ta chỉ có thể nhận biết được thái độ thông qua biểu hiện của nó ra ngoài bằng hành vi. Do vậy, chỉ có thể đánh giá được thái độ của Hiệu trưởng là tích cực hay tiêu cực thông qua việc làm cụ thể.
Ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ có vai trò rất lớn, quyết định quá trình hình thành và phát triển năng lực cho mỗi cán bộ làm công tác quản lí.
1.1.1.2. Năng lực quản lí
a. Khái niệm quản lí
* Khái niệm chung về quản lí
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lí:
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ quản lí được định nghĩa là “ Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Các nhà khoa học quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường đang biến động”.
Khái niệm quản lý cũng được định nghĩa theo cách khác: “ Quản lí là một hoạt động có kế hoạch, có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định. Nói cách khác, quản lý là quá trình thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã đề ra” [13, tr.32].
* Quản lý trường học
Trường học là tổ chức cơ sở trực tiếp làm công tác GD&ĐT, là tế bào cơ bản của hệ thống giáo dục của từng địa phương và của quốc gia, là hệ thống bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vây, mọi hoạt động quản lý của các cấp quản lý giáo dục đều phải hướng về trường học.
Quá trình quản lý trong nhà trường được xem như một thể thống nhất toàn vẹn, có các thành tố quan hệ mật thiết với nhau rất chặt chẽ. Trường học là nhân tố sinh thành hệ thống giáo dục. Không có nhà trường thì không thể có giáo dục theo đúng nghĩa của nó.
“ Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu GD&ĐT đối với ngành giáo dục, thế hệ trẻ và từng học sinh”
Quản lý trường học là quá trình tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên – học sinh và các cán bộ khác, đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường. Nói cách khác, đó là quá trình tác động lên toàn bộ các thành tố của quá trình GD&ĐT(bao gồm: Hành chính; tài chính,tài sản;con người: cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh; chuyên môn: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp…) nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu của quá trình giáo dục toàn diện, đạt tới các mục tiêu đã đề ra.
b. Năng lực quản lý
Năng lực quản lý cũng có phần chịu sự chi phối của yếu tố bẩm sinh (tố chất), nhưng chủ yếu được tạo ra trong qúa trình hoạt động thực tế và sự trau dồi về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác và phẩm chất nhân cách của chủ thể quản lý. Do chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hoặc một nhóm, vì vậy khái niệm năng lực quản lý của một cá nhân hay năng lực quản lý của một nhóm, nhưng không thể có một nhóm chủ thể quản lý có năng lực khi từng thành viên không có năng lực.
Một số yêu cầu về năng lực của người quản lý:
– Năng lực chuyên môn kỹ thuật (hiểu biết về nội dung chuyên môn và phương pháp tác nghiệp có liên quan, có khả năng hướng dẫn, kiểm tra người khác thực hiện, có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học và ứng dụng các công nghệ hiện đại trong công tác…).
– Năng lực quan hệ con người (tập hợp, định hướng dẫn dắt người khác thông qua giao tiếp, ứng xử, thiết lập và phát triển các mối quan hệ người- người, giải quyết xung đột, động viên khích lệ, tạo động lực cho nhân viên…).
– Năng lực tư duy chiến lược (dự báo, xác định tầm nhìn, hoạch định chiến lược, sáng tạo và đổi mới…) [13, tr.33].
Căn cứ Điều lệ trường Trung học của Bộ GD&ĐT( theo quyết định số 22/2000/QĐ-GD&ĐT ngày 11/7/2000 của bộ trưởng bộ GD&ĐT) thì Hiệu trưởng là người trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động nhà trường, chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan quản lý giáo dục trực tiếp về việc thực hiện các qui định, qui chế về GD&ĐT, bảo đảm chất lượng hoạt động GD&ĐT và những hoạt động khác của trường trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
Năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường phổ thông là khả năng thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo thẩm quyền của Hiệu trưởng.
Năng lực của Hiệu trưởng là khả năng thực hiện và hoàn thành công việc được giao, khả năng xử lý tình huống nảy sinh trong môi trường giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Năng lực của đội ngũ Hiệu trưởng là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các trường phổ thông đạt kết quả tốt.

a. Yêu cầu năng lực quản lý của Hiệu trưởng
Hiệu trưởng là người do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động nhà trường. Theo Thông tư 29/2009/TT-BGDDT ngày 22/10/2009 về việc ban hành quy định chuẩn Hiệu trưởng trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học thì năng lực Hiệu trưởng bao gồm: Năng lực chuyên môn, năng lực nghiệp vụ sư phạm và năng lực quản lý nhà trường:
– Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
Hiệu trưởng là người hiểu biết chương trình giáo dục phổ thông; hiueeur đúng và đầy đủ mục tiêu, yêu cầu, nội dung và phương pháp giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông.
+ Về trình độ chuyên môn: Đạt trình độ chuẩn đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục đối với cấp học; đạt trình độ chuẩn ở cấp học cao nhất đối với trường phổ thông có nhiều cấp học; nắm vững môn đã học hoặc đang đảm nhận giảng dạy, có hiểu biết về các môn học khác đáp ứng yêu cầu quản lý; am hiểu về lí luận, nghiệp vụ và quản lý giáo dục
+ Về nghiệp vụ sư phạm: Có khả năng tổ chức, thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học và giáo dục tích cực.
+ Về tự học và sáng tạo: Có ý thức, tinh thần tự học và xây dựng tập thể sư phạm thành tổ chức học tập, sáng tạo.
+ Về năng lực ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin: Sử dụng được một ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc ( đối với hiệu trưởng công tác tại trường dân tộc nội trú, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số); sử dụng được công nghệ thông tin trong công việc.
-Về năng lực quản lý nhà trường
+ Về phân tích và dự báo: Hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, địa phương; nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách và quy định của ngành giáo dục; phân tích tình hình và dự báo được xu thế phát triển của nhà trường.
+ Về tầm nhìn chiến lược: Xây dựng được tầm nhìn, sứ mạng, các giá trị của nhà trường hướng tới sự phát triển toàn diện của mỗi học sinh và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường; tuyên truyền và quảng bá về giá trị nhà trường; công khai mục tiêu, chương trình giáo dục, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục và hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường tạo được sự đồng thuận và ủng hộ nhằm phát triển nhà trường.
+ Về thiết kế và định hướng triển khai: Xác định được các mục tiêu ưu tiên; thiết kế và triển khai các chương trình hành động nhằm thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường; hướng mọi hoạt động của nhà trường vào mục tiêu nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh, nâng cao hiệu quả làm việc của các thầy cô giáo; động viên, khích lệ mọi thành viên trong nhà trường tích cực tham gia phong trào thi đua xây dựng “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực”; chủ động tham gia các hoạt động xã hội.
+ Về quyết đoán, có bản lĩnh đổi mới: Có khả năng ra quyết định đúng đắn, kịp thời và dám chịu trách nhiệm về các quyết định nhằm đảm bảo cơ hội học tập cho mọi học sinh, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường.
+ Về lập kế hoạch hoạt động: Tổ chức xây dựng kế hoạch của nhà trường.
+ Về tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ: Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường hoạt động hiệu quả; quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng và thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa, đảm bảo sự phát triển lâu dài của nhà trường; động viên đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên phát huy sáng kiến xây dựng nhà trường, thực hành dân chủ ở cơ sở, xây dựng đoàn kết ở từng đơn vị và trong toàn trường; mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo; chăm lo đời sống tinh thần, vật chất của giáo viên, cán bộ và nhân viên.
+ Về quản lý hoạt động dạy học: Tuyển sinh, tiếp nhận học sinh đúng quy định, làm tốt công tác quản lý học sinh; thực hiện chương trình các môn học theo hướng phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nhằm đạt kết quả học tập cao trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng theo các quy định hiện hành; tổ chức hoạt dộng dạy học của giáo viên theo yêu cầu đổi mới, phát huy dân chủ, khuyến khích sự sáng tạo của từng giáo viên, của các tổ bộ môn và tập thể sư phạm nhà trường; thực hiện giáo dục toàn diện, phát triển tối đa tiềm năng của người học, để mỗi học sinh đều có phẩm chất đạo đức làm nền tảng để trở thành một công dân tốt, có khả năng định hướng vào một lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với tiềm năng sẵn có của mình và nhu cầu của xã hội.
+ Về quản lý tài chính và tài sản nhà trường: Huy động và sử dụng hiệu quả, minh bạch, đúng quy định các nguồn tài chính phục vụ các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường, thực hiện công khai tài chính của trường theo đúng quy định; quản lý sử dụng hiệu quả tài sản nhà trường, thiết bị dạy học phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông.
+ Về phát triển môi trường giáo dục: Xây dựng nếp sống văn hóa và môi trường sư phạm; tạo cảnh quan trường học xanh, sạch, đẹp, vệ sinh, an toàn và lành mạnh; xây dựng và duy trì mối quan hệ thường xuyên với gia đình học sinh để đạt hiệu quả trong hoạt động giáo dục của nhà trường; tổ chức phối hợp với các đoàn thể và các lực lượng trong cộng đồng xã hội nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, tạo dựng niềm tin, giá trị đạo đức, văn hóa và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh.
+ Về quản lý hành chính: Xây dựng và cải tiến các quy trình hoạt động, thủ tục hành chính của nhà trường; quản lý hồ sơ, sổ sách theo đúng quy định.
+ Về quản lý công tác thi đua, khen thưởng: Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua; động viên, khích lệ, trận trọng và đánh giá đúng thành tích của cán bộ, giáo viên, nhân viên, tin: Tổ chức xây dựng hệ thống thông tin phục vụ hiệu quả các hoạt động giáo dục; ứng dụng có kết quả công nghệ thông tin trong quản lý, dạy học; tiếp nhận và xử lý các thông tin phản hồi để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường; hợp tác và chia sẻ thông tin về kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý với các cơ sở giáo dục, cá nhân và tổ chức khác để hỗ trợ phát triển nhà trường; thông tin, báo cáo các lĩnh vực hoạt động của nhà trường đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định.
+ Về kiểm tra đánh giá: Tổ chức đánh giá khách quan, khoa học, công bằng kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, kết quả công tác, rèn luyện của giáo viên, cán bộ, nhân viên và lãnh đạo nhà trường; thực hiện tự đánh giá nhà trường và chấp hành kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định.
* Vai trò năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT
+ Đối với Sở GD&ĐT : Hiệu trưởng là nơi tổ chức thực hiện các chính sách, mệnh lệnh quản lý của Sở GD&ĐT, là cầu nối giữa Sở GD&ĐT với các trường THPT. Hầu hết các quyết định quản lý muốn triển khai đến các trường học cần phải qua cấp trung gian là Hiệu trưởng.
Hiệu trưởng là người có vai trò quan trọng trong việc tham mưu cho Sở GD&ĐT về những vấn đề quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập, giúp các phòng ban thuộc Sở GD&ĐT phát hiện và tháo gỡ khó khăn, bất cấp trong các quy định, chính sách mà quá trình thực thi ở trường đó nảy sinh các vướng mắc.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\PHAM THI THANH TAM


