Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành

Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành

Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Địa danh học là một lĩnh vực quan trọng mà nhiều ngành khoa học quan tâm. Trong ngôn ngữ học, địa danh học nghiên cứu tên và cách đặt tên các danh từ địa lí như tên tên sông, tên núi, tên làng và nhiều loại địa danh khác. Nghiên cứu địa danh không những làm sáng tỏ những vấn đề nội bộ của địa danh, mà còn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề chung của ngôn ngữ, nhất là đặc điểm ngôn ngữ tồn tại trong một vùng phương ngữ.

1.2. Nghiên cứu địa danh sẽ góp phần vào việc soi sáng sự phát triển của tiếng Việt và của tiếng địa phương trong các lĩnh vực ngữ âm, từng vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp được phản ánh qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.

1.3. Địa danh một khu vực luôn tồn tại những mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại với những lĩnh vực như văn hóa, lịch sử, địa lý, dân cư, ngôn ngữ,… Vì thế, ngoài ý nghĩa đối với nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu địa danh còn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề khác như vừa nêu. Trong đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa tồn tại trong một vùng phương ngữ là nội dung quan trọng của việc nghiên cứu địa danh .

1.4. Với những đặc điểm khá đặc biệt về vị trí địa lí, lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa, nghiên cứu địa danh huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam hứa hẹn sẽ mang lại kết quả có giá trị về nhiều mặt.Về mặt địa lí, lịch sử, huyện Núi Thành được xác nhận là vùng đất được hình thành từ rất lâu . Lịch sử Núi Thành tồn tại và phát triển song song cùng với lịch sử dân tộc . Địa danh là sản phẩm của một cộng đồng nhất định và ra đời một giai đoạn lịch sử cụ thể. Do đó, nghiên cứu địa danh huyện Núi Thành sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề của lịch sử nói chung và lịch sử vùng Quảng Nam nói riêng.

1.5. Về ngôn ngữ, huyện Núi Thành là khu vực còn bảo lưu nhiều dấu vết của tiếng Việt cổ. Nghiên cứu địa danh khu vực này, sẽ giúp chúng ta thấy được rõ hơn đặc điểm ngôn ngữ vừa nêu, vì địa danh được xem là “tấm bia hóa thạch của lịch sử”. Về văn hóa,huyện Núi Thành là khu vực có bề dày về ‘trầm tích” văn hóa, trong cái nền văn hóa chung của Quảng Nam, hình thành nên một vùng văn hóa vào loại đặc sắc của Việt Nam – văn hóa xứ Quảng. Nghiên cứu địa danh huyện Núi Thành góp phần làm “sống dậy” những giá trị văn hóa của địa bàn này.

Nghiên cứu địa danh trong những mối quan hệ với các mặt có liên quan như vậy, sẽ phác thảo được bức tranh tổng thể về địa danh huyện Núi Thành. Đến thời điểm này, chưa có công trình ngôn ngữ học nào nghiên cứu tổng thể về địa danh huyện Núi Thành. Là một người sinh ra và lớn lên tại địa phương, nhận thức được ý nghĩa của vấn đề, chúng tôi đã chọn đề tài “Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành” làm đối tượng nghiên cứu.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nghiên cứu địa danh Núi Thành trên các mặt: đặc điểm về cấu tạo, phương thức định danh gắn với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cũng như đặc trưng ngôn ngữ – văn hóa qua mối quan hệ giữa địa danh với lịch sử, địa lý, tiếng địa phương. Đồng thời, qua biểu hiện các thành tố văn hóa chúng ta nhận ra sự ảnh hưởng, giao thoa giữa ngôn ngữ với văn hóa và lịch sử ở vùng đất huyện Núi Thành.

Thông qua việc miêu tả và phân tích địa danh, luận văn sẽ chỉ ra những yếu tố hình thành nên đặc điểm của địa danh huyện Núi Thành. Đó là những yếu tố địa hình, lịch sử, dân cư, văn hóa và ngôn ngữ. Trên cơ sở kết quả khảo sát và phân tích các đặc điểm của đối tượng, luận văn góp phần nghiên cứu địa danh ở huyện Núi Thành nói riêng và ở Quảng Nam nói chung, một vấn đề tuy đã có những công trình nghiên cứu nhưng vẫn còn rất nhiều khía cạnh cần được khai thác. Trong điều kiện cho phép, những cứ liệu được thu thập, thống kê sẽ là cơ sở để xây dựng cuốn từ điển địa danh Quảng Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

– Tìm hiểu những vấn đề lý luận về địa danh có liên quan đến quá trình nghiên cứu địa danh Núi Thành. Đó là các vấn đề thuộc về lý thuyết định danh làm cơ sở cho việc tìm hiểu những đặc điểm chính của địa danh.

– Điền dã, khảo sát thực tế hệ thống địa danh thuộc các loại hình, đối tượng địa lý khác nhau được phân bố và tồn tại trong phạm vi địa bàn toàn huyện. Thống kê, mô tả và phân tích cứ liệu để rút ra những nhận xét về mặt cấu tạo, phương thức định danh, nguồn gốc ngôn ngữ và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh cũng như mối quan hệ của nó với các yếu tố địa lý, lịch sử dân cư và văn hóa. Từ đó, khái quát được bức tranh địa danh vùng này trong sự giao thoa giữa ngôn ngữ với văn hóa và lịch sử.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Đặc điểm địa danh huyện Núi Thành. Luận văn sẽ tập trung khảo sát tên gọi các đối tượng địa lý tồn tại trên địa bàn. Cụ thể đó là các địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên hay còn gọi là địa danh chỉ địa hình (núi, gò, đồi, sông, rạch…) địa danh chỉ các công trình xây dựng, (cầu đường, bến phà, bến đò, bến chợ…) địa danh hành chính (huyện, thị trấn, xã, thôn, xóm…) địa danh vùng ( khu công nghiệp, giáo xứ…)

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn chủ yếu mô tả, khảo sát những địa danh về mặt ngôn ngữ trên diện đồng đại và bước đầu tìm hiểu về một số nguồn gốc ý nghĩa của địa danh thuộc huyện Núi Thành.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thu thập và xử lí tư liệu: Thu thập tư liệu lầ công việc đầu tiên của người nghiên cứu địa danh. Tư liệu chúng tôi thu thập bao gồm nhiều nguồn tư liệu khác nhau:

Tư liệu lưu trữ hành chính từ trước đến nay của tỉnh, thành phố, huyện, xã, xóm, làng… Bản đồ về các loại địa hình, hành chính, kinh tế, quân sự của tỉnh Quảng Nam và các huyện thị trong tỉnh là tư liệu quý giúp cho việc xác định tọa độ, vị trí địa điểm của từng địa danh. Các báo địa phương, sách địa phương chí về địa bàn, các bài báo viết về địa phương, một số tác phẩm văn học viết về địa phương… Các sách lí luận về địa danh học và ngôn ngữ học cũng như các tư liệu từ các loại từ điển khác nhau rất cần thiêt cho việc nghiên cứu địa danh. Sách viết về ngôn ngữ học và địa danh học ở trong và ngoài nước là những nguồn tư liệu cơ bản, cần thiết giúp cho người nghiên cứu xác định đúng hướng và ít tốn thời gian trong công việc của mình. Còn các từ điền viết về địa danh, từ điển cổ, từ điển phương ngữ,… giúp xác định được thời điểm và thời gian ra đời của các địa danh.

Tư liệu điền dã được người nghiên cứu quan sát, thu thập, ghi chép và chọn lọc trong quá trình đi thực tế. Những tư liệu này phục vụ cho việc lập bảng thống kê, phân loại từng nhóm địa danh và giải thích nguồn gốc, ý nghĩa, thời điểm ra đời cũng như những biến đổi của địa danh một cách chính xác.

– Phương pháp thống kê, phân loại và miêu tả: Dựa vào nguồn tư liệu đã được thu thập, chúng tôi tiến hành thống kê phân loại và miêu tả từng các địa danh để thấy rõ số lượng từng loại. Từ đó có thể rút ra đặc điểm riêng của từng loại và đặc điểm chung của địa danh từng vùng. Trên kết quả phân loại, tiếp theo người nghiên cứu sẽ miêu tả những phương thức địa danh, cách cấu tạo địa danh, những chuyển biến của nó.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp

Địa danh vốn mang trong mình nhiều mặt khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, xã hội,… vì vậy nghiên cứu địa danh cần áp dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, liên ngành, đa ngành. Có như vậy kết quả nghiên cứu mới đầy đủ, rõ ràng và mang tính khoa học hơn.

Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành
Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành

* Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Luận văn sẽ được lập vào danh mục địa danh huyện Núi Thành và phân loại địa danh theo các tiêu chí cụ thể. Lần đầu tiên bức tranh tổng thể về địa danh huyện Núi Thành được mô tả và khái quát ở các mặt: đặc điểm về cấu tạo, ý nghĩa, các phương thức định danh. Luận văn cũng chỉ ra một số đặc điểm hình thành, biến đổi đặc trưng văn hóa trong địa danh huyện Núi Thành.

Luận văn cũng góp phần thể hiện một vài đặc điểm về các vấn đề chung của lịch sử tiếng Việt.

5. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài

5.1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới

5.2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

6. Bố cục luận văn

Luận văn chia làm ba phần: Ngoài phần mở đầy, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và khái quát về huyện Núi Thành

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo địa danh huyện Núi Thành

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa địa danh huyện Núi Thành

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT

VỀ HUYỆN NÚI THÀNH

1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH

1.1.1. Khái niệm địa danh

a. Khái niệm địa danh

Theo tác giả An Chi thì Toponymie là một danh từ của tiếng Pháp hiện đại, có nghĩa là địa danh học. Đây là một từ phái sinh bằng hậu tố“-ie” từ danh từ toponyme, có nghĩa là địa danh. Toponyme gồm hai hình vị căn tố (top(o) và onyme) bắt nguồn từ hai danh từ Hy Lạp cổ là topos (có nghĩa là nơi chốn) và onoma (có nghĩa là tên) [16, tr.47- 48]. Vậy địa danh là gì? Có phải nó chỉ đơn giản được hiểu là tên nơi chốn, hay tên các đối tượng địa lý hoặc tên đất?

Thực tế, vấn đề định nghĩa địa danh cho đến nay vẫn còn nhiều bàn cãi, không thống nhất, mỗi nhà nghiên cứu đều tùy theo phương pháp tiếp cận mà đưa ra những định nghĩa khác nhau. Dưới đây là một vài định nghĩa về địa danh của các tác giả trong và ngoài nước.

“Địa danh là tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng. Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponymia” [41, tr.1]. Đây là định nghĩa của A. V. Superanskaja. Bà giải thích “Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [41, tr.13]. Theo G. M. Kert thì: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người. Chúng là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị- xã hội ở nơi đó” (cf. Nguyễn Tấn Anh) [4, tr.16].

Tác giả cuốn [43, tr.11] cho rằng: “Địa danh của một vùng hay của một nước là tổng thể các tên riêng đặt ra để gọi các đơn vị địa lý tự nhiên hay nhân văn của vùng ấy hay nước ấy”.

Nhìn chung, các tác giả nước ngoài chỉ mô tả một cách khái quát địa danh và xem địa danh là tên gọi các đối tượng địa lý. Còn ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra định nghĩa về địa danh theo cách hiểu của mình. Chẳng hạn như tác giả Nguyễn Văn Âu tiếp cận địa danh theo góc độ địa lý – văn hóa và quan niệm: “Địa danh học (toponymie) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương” [6, tr.5], “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc… hay là tên các địa phương, các dân tộc” [5, tr.5]. Tác giả Bùi Đức Tịnh cho rằng: “Địa danh là một danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên được phân biệt về phương diện địa lý, các vị trí cần phân biệt trong sinh hoạt xã hội và các đơn vị được xác định trong tổ chức hành chính hay quân sự” [46, tr.10].

Tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học có các tác giả sau:

Hoàng Thị Châu định nghĩa: “Địa danh hay là tên địa lý (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính,… được con người đặt ra” [50].

Tác giả Lê Trung Hoa sau khi phân loại địa danh theo các đối tượng địa lý (theo tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên) và theo nguồn gốc ngữ nguyên của địa danh, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều. Trước địa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó: sông Hương, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), vùng Ba Vì, thành phố Cần Thơ, đường Nguyễn Du…” [28, tr.18].

Trong luận án Phó Tiến sĩ khoa học ngữ văn năm 1996, Nguyễn Kiên Trường viết: “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [44, tr.16].

Từ Thu Mai hiểu địa danh theo cách hiểu của A. V. Superanskaja: Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất. Mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau nhưng các đối tượng địa lý bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thể độc lập [34, tr.19].

Trần Văn Dũng quan niệm: “Địa danh là tên gọi những đối tượng địa lý tự nhiên và địa lý do con người kiến tạo” và “Các đối tượng do con người kiến tạo (có thể gọi là địa lý nhân văn) bao gồm: địa lý nơi cư trú, địa lý chỉ các công trình xây dựng” [18, tr.15].

Hoàng Tất Thắng với bài Địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ, tác giả cho rằng: “Địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó” [48].

Trong một số từ điển của nước ta, các tác giả thường giải thích địa danh theo lối chiết tự có nghĩa là tên đất. Như Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh cho rằng địa danh là “tên các miền đất (nom de terre)” [2, tr.268]. Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt cũng định nghĩa: “Địa danh là tên đất, tên địa phương” [36, tr.314].

Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại trên bản đồ. Địa danh có thể phản ánh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố địa lý tự nhiên và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [48, tr.780].

Rõ ràng, mỗi tác giả đều có cách hiểu, cách lý giải khác nhau về khái niệm địa danh. Tuy nhiên, điều đầu tiên có thể thấy là khái niệm địa danh nếu chỉ hiểu theo cách lý giải như trong Hán Việt từ điển hay Từ điển tiếng Việt thì quá đơn giản. Địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lý, dùng riêng cho tên đất mà còn là tên gọi của các đối tượng chỉ địa hình thiên nhiên,công trình xây dựng, các vùng lãnh thổ…

Còn định nghĩa theo như Từ điển bách khoa Việt Nam lại không có tính khái quát, tuy dài nhưng lại thiếu. Chẳng hạn thiếu tên các đơn vị hành chính như quận, thôn, ấp…tên các khu kinh tế như khu thương mại, khu du lịch…tên các công trình xây dựng như cầu, đường, công viên…

Nguyễn Văn Âu thì chỉ quan tâm đến các đối tượng tự nhiên. Thực ra, trong địa danh, bên cạnh các đối tượng tự nhiên còn có các đối tượng nhân tạo chiếm một tỉ lệ khá lớn. Cách giải thích của Hoàng Thị Châu lại quá thiên về chức năng định danh trong ngôn ngữ. Định nghĩa của hai tác giả Trần Văn Dũng và Từ Thu Mai có nhiều nét tương đồng với Nguyễn Kiên Trường.

Địa danh rất gần gũi với con người, do con người đặt ra, như vậy có địa danh chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân tạo. Ở đây, chúng tôi không đưa ra một định nghĩa riêng về địa danh mà chấp nhận định nghĩa theo tiêu chí loại hình của tác giả Lê Trung Hoa.

b. Địa danh học

Địa danh học (toponymy, toponomastics) là một chuyên ngành của ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứu cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh. Trong ngôn ngữ học, địa danh học là một trong những chuyên ngành của danh xưng học, thuộc bộ môn từ vựng học.Địa danh học còn chia thành các ngành nhỏ hơn như sơn danh học (nghiên cứu tên gọi đồi núi, địa hình đường so với mặt đất), thủy danh học (nghiên cứu tên gọi liên quan đến nước và các dòng chảy), phương danh học (nghiên cứu tên gọi địa điểm cư trú của con người), phố danh học (nghiên cứu tên gọi đường phố và các công trình nhân tạo khác trong thành phố).

1.1.2. Phân loại địa danh

a. Các quan điểm phân loại địa danh

Để có thể giúp cho việc nghiên cứu địa danh diễn ra thuận lợi và đạt kết quả cao, người ta thường tiến hành phân loại địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề phức tạp mà cho đến nay vẫn chưa có được một cách phân loại thống nhất giữa các nhà nghiên cứu địa danh.

Các nhà nghiên cứu địa danh học phương Tây và Xô Viết thường phân loại địa danh dựa trên hai tiêu chí ngữ nguyên và đối tượng.

Theo tài liệu của tác giả Lê Trung Hoa cung cấp [28, tr.9-11] thì hai nhà địa danh học người Pháp là A. Dauzat và Charles Rostaing không phân loại địa danh một cách cụ thể nhưng các tác giả đều chia địa danh thành nhiều loại dựa vào tiêu chí ngữ nguyên. A. Dauzat trong cuốn La toponymie francaise đã chia địa danh làm bốn phần: 1) Vấn đề những cơ sở tiền Ấn – Âu; 2) Các danh từ tiền La tinh vềnước trong thủy danh học; 3) Các từ nguyên Gô-loa – La Mã của vùng Auvergne và Velay. Còn Charles Rostaing trong cuốn Les noms de lieux ngoài việc dựa vào ngữ nguyên ông còn kết hợp với đối tượng địa lý để chia địa danh ra làm 11 loại: 1) Những cơ sở tiền Ấn – Âu; 2) Các lớp tiền Xên-tích; 3) Lớp Gô-loa; 4) Những phạm vi Gô-loa – La Mã; 5) Các sự hình thành La Mã; 6) Những đóng góp của tiếng Giéc – manh; 7) Các hình thức của thời phong kiến; 8) Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo; 9) Những hình thái hiện đại; 10) Các địa danh và tên đường phố; 11) Tên sông và núi.

Hai tác giả G. P. Smolicnaja và M.V. Gorbanevskij trong cuốn Toponimija Moskvychia địa danh làm bốn loại: 1) Phương danh (tên các địa phương); 2) Sơn danh (tên núi, đồi, gò…); 3) Thủy danh (tên các dòng chảy, ao, vũng…); 4) Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố). Trong khi đó, A. V. Superanskaja với Chto takoe toponimika? lại chia địa danh thành bảy loại: 1) Phương danh; 2) Thủy danh; 3) Sơn danh; 4) Phố danh; 5) Viên danh (tên các quảng trường); 6) Lộ danh (tên các đường phố); 7) Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không). Như vậy, nhóm các tác giả Xô-viết này đã chia địa danh dựa vào tiêu chí đối tượng mà địa danh biểu thị.

Nhìn chung cách phân loại địa danh của các tác giả nước ngoài vẫn còn thiếu tính khái quát, chưa xác định rõ ràng tiêu chí phân loại.

Ở Việt Nam, Đặng Xuân Bảng (1828 – 1910) là người đã đề cập đến vấn đề phân loại địa danh từ rất sớm qua cuốn Sử học bị khảo, phần Địa lý khảo. Sau đó, tác giả Hoàng Thị Châu trong bài viết về việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc [15, tr.44-47] cũng nói đến việc phân loại địa danh thành hai hệ thống là tiểu địa danh (gồm: tên thôn xóm, gò đồi, khe suối, đầm hồ…) và đại địa danh (gồm: tên lục địa, đại dương, nước, vùng, thủ đô, thành phố, sông, biển…).

Năm 1976, Trần Thanh Tâm trong Thử bàn về địa danh Việt Nam [42, tr.60-73] đã chia địa danh Việt Nam thành sáu loại: 1) Loại đặt theo địa hình và đặc điểm; 2) Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian; 3) Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử; 4) Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu; 5) Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế; 6) Loại đặt theo sinh hoạt xã hội.

Tiếp theo là hai cuốn Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh [27, tr.24-27] và Địa danh học Việt Nam [28, tr.15-16] của Lê Trung Hoa. Dựa vào hai tiêu chí tự nhiên/không tự nhiên (tức là theo đối tượng) và tiêu chí ngữ nguyên, tác giả đã phân địa danh thành những loại sau:

Theo đối tượng gồm có: 1) Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên (còn gọi là địa danh chỉ địa hình); 2) Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo gồm có ba loại: địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, địa danh hành chính và địa danh vùng (không có ranh giới rõ ràng).

Theo ngữ nguyên gồm có: 1) Địa danh thuần Việt; 2) Địa danh Hán Việt; 3) Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Ba Na, Ê Đê, Gia Rai, Tày, Thái, Mường…); 4) Địa danh ngoại ngữ (chủ yếu là địa danh gốc Pháp, ngoài ra còn có gốc Indonesia, Malaysia).

Nguyễn Văn Âu [5], [6] phân địa danh theo ba cấp: loại, kiểu và dạng. Trong đó, có 2 loại (tự nhiên và kinh tế- xã hội), 7 kiểu (thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố và quốc gia) và 12 dạng (sông ngòi; hồ đầm; đồi núi; hải đảo; rừng rú; truông, trảng; làng, xã; huyện, quận; thị trấn; tỉnh; thành phố và quốc gia).

Tác giả Nguyễn Kiên Trường phân loại địa danh Hải Phòng dựa vào ba tiêu chí. Tiêu chí loại hình gồm nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên và nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn gồm các tiểu nhóm: 1) Nhóm địa danh cư trú – hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của con người, do con người tạo nên; 2) Nhóm địa danh đường phố và địa danh chỉ công trình xây dựng). Theo tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh thành các tiểu loại có nguồn gốc khác nhau: nguồn gốc Hán Việt, nguồn gốc thuần Việt, nguồn gốc từ tiếng Pháp, nguồn gốc từ phương ngữ Quảng Đông, nguồn gốc khác như Tày – Thái, Việt – Mường…, nguồn gốc hỗn hợp và địa danh chưa xác định được nguồn gốc. Ngoài ra, tác giả còn bổ sung thêm tiêu chí thứ ba là chức năng giao tiếp (biệt xưng, tự xưng, giản xưng, tục xưng…) và theo hệ quy chiếu đồng đại – lịch đại (cổ, cũ, hiện nay) [44, tr.41-50].

Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành
Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành

Tiếp thu ý kiến của những người đi trước, tác giả Trần Văn Dũng chia địa danh Đăk Lăk thành hai nhóm lớn: nhóm địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và nhóm địa danh chỉ các đối tượng do con người kiến tạo (gồm hai loại nhỏ là địa danh chỉ đối tượng nơi cư trú và địa danh chỉ các công trình xây dựng). Theo ngữ nguyên, tác giả chia địa danh làm năm loại: 1) Loại địa danh gốc bản địa (đặt theo cách và tiếng của các dân tộc thiểu số tại chỗ- các cư dân sống lâu đời trên địa bàn); 2) Loại địa danh thuần Việt; 3) Loại địa danh Hán – Việt; 4) Loại địa danh gốc khác; 5) Loại địa danh chưa xác định được nguồn gốc. Ngoài ra, xét về mặt ý nghĩa, tác giả còn phân địa danh thành hai loại: loại địa danh có ý nghĩa rõ ràng và địa danh mang tính võ đoán hoặc còn ý kiến bàn luận [18, tr.21-22].

Có thể thấy, cách phân loại của Hoàng Thị Châu và Trần Thanh Tâm chưa mang tính cụ thể, rõ ràng, nhất là giữa phương thức đặt địa danh và cách phân loại. Còn Nguyễn Văn Âu dựa vào đặc điểm địa lý – xã hội để phân loại nhưng trùng lặp, rối rắm và thiếu tính lôgic. Trần Văn Dũng cho rằng các tổ chức cơ sở dưới phường, xã, thị trấn như buôn, ấp đều không phải là đơn vị hành chính, vì vậy, tác giả không dùng tiêu đề địa danh hành chính trong khi phân loại. Hơn nữa, tên gọi và cách đặt tên gọi các điểm dân cư (dù là đơn vị hành chính hay không, dù là tên dân gian hay tên do chính quyền đặt) đều có những đặc điểm cơ bản giống nhau. Thật ra, giữa địa danh do dân gian đặt và các địa danh ghi trong văn bản nhà nước có điểm khác nhau. Địa danh do dân gian đặt không xác định được ranh giới, diện tích và dân số. Ngược lại, địa danh do chính quyền trung ương hay địa phương đặt có ranh giới rõ ràng, có thể xác định được diện tích, dân số.

Cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa và Nguyễn Kiên Trường có nhiều điểm đáng lưu ý, mang tính hợp lý, có tiêu chí rõ ràng có thể áp dụng cho mọi vùng địa danh.

b. Quan điểm phân loại của tác giả luận văn

Sau khi tìm hiểu các cách phân loại địa danh của các tác giả nghiên cứu trong và ngoài nước chúng tôi phân loại địa danh ra như sau

b.1. Căn cứ vào nguồn gốc địa danh và đặc điểm địa hình

  • Địa danh thiên nhiên (thiên tạo) gồm các địa danh như sau:
  • Địa danh đồi núi
  • Địa danh sông nước
  • Địa danh đồng bằng
  • Địa danh nhân văn (nhân tạo) gồm các loại địa danh như sau:
  • Địa danh hành chính
  • Địa danh các công trình xây dựng
  • Địa danh các công trình di tích lịch sử, văn hóa tín ngưỡng

b.2. Căn cứ vào nguồn gốc tên gọi

  • Địa danh có nguồn gốc thuần Việt
  • Địa danh có nguồn gốc Hán -Việt
  • Địa danh có nguồn gốc khác

b.3. Phân loại theo số lượng âm tiết

– Địa danh đơn tiết

– Địa danh phức

1.1.3. Đối tượng nghiên cứu của địa danh học

Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh. Bên cạnh đó, nghiên cứu địa danh học còn cần phải chỉ ra được các phương thức đặt địa danh và phân tích cách cấu tạo địa danh, phát hiện những nguyên nhân chi phối sự ra đời, hành chức và tiêu vong của địa danh. Như vậy, đối tượng của địa danh học chính là địa danh.

Như đã trình bày ở trên, địa danh bao gồm các đối tượng tự nhiên và các đối tượng nhân tạo. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là đối với những tên đình, chùa,miếu, miễu, nhà thờ, nhà hát, công ty, trường học, cơ quan, viện, khách sạn… chúng ta có nên xem là địa danh hay không? Một số tác giả cho là có (như các tác giả trong Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng, Từ điển Hà Nội – Địa danh) nhưng phần lớn, nhiều nhà nghiên cứu lại không đồng tình với quan điểm này.

Thực ra, ngành từ vựng học có một ngành nhỏ là danh xưng học (onomasiologie) chuyên nghiên cứu tên riêng chia ra ba nhánh nhỏ là nhân danh học, hiệu danh học và địa danh học. Trong đó, nhân danh học chuyên nghiên cứu tên riêng của con người gồm họ, tên chính, tên đệm, tự, hiệu, bút danh… Còn hiệu danh học chuyên nghiên cứu tên các thiên thể, nhãn hiệu, biển hiệu, tổ chức… Địa danh học cũng nghiên cứu tên riêng nhưng liên quan đến một vùng lãnh thổ nhất định và có tính bền vững. Như đã nói ởtrên, địa danh học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và những chuyển biến của địa danh; tức là lấy những từ, ngữ được dùng để đặt tên riêng của địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các công trình xây dựng, các vùng lãnh thổ về không gian hai chiều làm đối tượng nghiên cứu. Điều này có nghĩa là giữa địa danh học và hiệu danh học có đối tượng nghiên cứu khác nhau. Vì vậy, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Lê Trung Hoa rằng “Tên các công trình thiên về không gian hai chiều là địa danh (như tên cầu, đường, công viên..), còn tên các công trình thiên về không gian ba chiều (như tên chùa, nhà thờ, trường học, cơ quan…) là hiệu danh” [26, tr.14-15].

1.1.4. Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học

Địa danh học (toponymy, toponomastica) là một chuyên ngành của ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứu cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh. Trong ngôn ngữ học, địa danh học là một trong những chuyên ngành của danh xưng học, thuộc bộ môn từ vựng học. Địa danh học còn chia thành các ngành nhỏ hơn như sơn danh học (nghiên cứu tên gọi đồi núi, địa hình đường so với mặt đất), thủy danh học (nghiên cứu tên gọi liên quan đến nước và các dòng chảy), phương danh học (nghiên cứu tên gọi địa điểm cư trú của con người), phố danh học (nghiên cứu tên gọi đường phố và các công trình nhân tạo khác trong thành phố).

Biểu đồ 1.1: Vị trí của Địa danh học trong Ngôn ngữ học

1.1.5. Các phương thức cấu thành địa danh

Phương thức đặt địa danh (hay còn gọi là phương thức định danh, phương thức cấu thành), thuộc vào nguyên tắc đặt tên, cùng với cấu trúc nội bộ, là một trong hai bộ phận cấu tạo địa danh. Chính phương thức định danh làm cho địa danh có những ý nghĩa sinh động, phong phú độc đáo, giúp cho những vùng miền có dấu ấn riêng và cả những đặc trưng văn hóa đặc sắc. Theo “Từ điển tiếng Việt”[36, tr.793] thì “phương thức là cách thức và phương pháp”(nói tổng quát) trong đó “ cách thức là hình thức diễn ra một hành động” còn “phương pháp là hệ thống cách sử dụng để tiến hành một hành động nào đó”. Từ đó có thể quan niệm “phương thức định danh” là phương pháp đặt tên cho đối tượng nào đó. Đây là một khái niệm mang tính chất tổng thể, vừa thể hiện cách thức, vừa thể hiện phương pháp trong quá trình chọn lựa, sắp xếp để đặt tên cho địa danh.

Một địa danh luôn có cấu tạo hai bộ phận, đó là cấu tạo nội dung và cấu tạo hình thức, theo Từ Thu Mai [34, tr.110] đó chính là “cấu trúc nội bộ” và “ nguyên tắc đặt tên” .“Cấu trúc nội bộ của địa danh là cấu tạo về mặt ngữ pháp còn nguyên tắc đặt tên chính là nguyên tắc được thể hiện qua việc trả lời các câu hỏi đặt tên dựa vào cái gì hay gọi theo cái gì. Nếu cấu trúc nội bộ tạo nên những đặc điểm về cấu tạo thì nguyên tắc đặt tên tạo nên những đặc điểm về ý nghĩa của nó”.

Chẳng hạn, trong địa danh thôn Long Bình cấu tạo hình thức của địa danh là một từ ghép chính phụ, trong đó yếu tố “Long” đứng trước là yếu tố chính còn yếu tố “Bình” đứng sau là yếu tố phụ đi sau có chức năng phân biệt thôn Long Bình với các thôn khác cùng xã như Long Phú…Còn xét về nguyên tắc đặt tên thì địa danh “Long Bình”còn phản ánh tình cảm yêu quý trân trọng của con người đối với vùng đất mình sinh sống.

Việc xác định nguồn gốc và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh là để trả lời cho câu hỏi: người ta dựa vào đâu để định danh và định danh bằng phương pháp nào, cách thức ra sao, chính là tìm hiểu phương thức định danh địa danh đó. Do vậy phương thức định danh và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh gắn bó chặt chẽ.

Còn theo Trần Thanh Tâm (1976) đã đưa ra 6 nguyên tắc đặt tên cho địa danh:

1.Loại địa danh theo địa hình và đặc điểm.

2. Loại địa danh theo vị trí không gian và thời gian.

3. Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo lịch sử.

4. Loại đặt theo hình thái đất đai khí hậu.

5. Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế.

6. Loại đặt theo sinh hoạt xã hội [42, tr.60 – 63].

Năm 1999, Bùi Đức Tịnh đã đưa ra hai cách tạo địa danh:

1.Theo lề lối của ngôn ngữ và tập quán Việt Nam.

2.Việt hóa những địa danh sẵn có trong ngôn ngữ của một dân tộc. Theo tác giả, cách tạo địa danh theo lối Việt hóa địa danh có hai phương thức:

– Phương thức Việt hóa địa danh của ngôn ngữ một dân tộc khác thực hiện theo lối 3 bước: chỉ Việt hóa ngữ âm mà không quan tâm đến nội dung ý nghĩa( ví dụ Phsar Dek tiếng Cam-pu-chia nghĩa là chợ Sắt, Việt hóa thành Sa Đec) lối thứ hai là dịch nghĩa( núi Bà Đen được dịch nghĩa từ Phnom Vicil Khmau)lối thứ ba là phối hợp hai lối vừa kể, một phần Việt hóa ngữ âm và một phần dịch nghĩa ( ví dụ Vũng Gù chỉ sông Vàm cỏ ở gần vùng Tân An, vũng dịch nghĩa tiếng Campuchia là Kompong, gù Việt hóa ngữ âm một tiếng Campuchia nghĩa là con bò.

– Phương thức dùng từ tố hoàn toàn Việt Nam để đặt tên cho vật thế.

+ Cách đặt địa danh cho vật thể tự nhiên gồm ba loại:

* Các vật thể chỉ có tác dụng làm khung cảnh cho cuộc sống như: bàu, bưng, đầm, láng, tráng… các vật thể này thường đặt tên bằng đặc điểm về hình dáng, về cây cỏ mọc ngay trong vùng hoặc kế cận hay về chim thú sống trong vùng.

* Về vật thể dùng làm phương tiện cho cuộc sống con người, ở mặt này hay mặt khác, phải kể đến như: “ biển, núi, sông, gành”. Các vật thể như: “ sông, núi, biển” theo tác giả ngoài việc tên có sẵn do người xưa để lại thì “ sông và biển” thường mang tên địa phương thường xuất hiện ở địa phương nào đó.

* Ngoài ra các vật thể này còn đặt tên theo: Đặc điểm, vị trí, đặc điểm về hình dáng thực vật hay động vật.

+ Cách đặt tên các vị trí liên hệ đến giao thông dựa vào các đặc điểm sau:

  • Hình dáng của các vật thể giao thông
  • Các vật thể thuộc về phương tiện giao thông

+ Cách đặt tên các vị trí tập hợp dân cư theo những cách: theo vị trí, theo tên người sáng lập, theo hoàng loạt hàng được mua bán nhiều nhất. Ngoài ra còn đặt tên theo vị trí và sinh hoạt nghề nghiệp

+ Cách đặt tên các đơn vị hành chính quân sự

  • Các đơn vị hành chính thường là những từ Hán Việt có ý nghĩa tốt đẹp thể hiện sự mong ước của con người.
  • Các đơn vị quân sự thì được đặt tên bằng những từ Hán Việt ý nghĩa chiếm giữ và ấn định lâu dài.

Theo Nguyễn Kiên Trường (1996) ngoài phương thức gọi tên dựa vào thuộc tính, đặc điểm của đối tượng thì thời cận hiện đại còn có cách đặt tên như sau:

1. Phương thức ghép số và ghép địa danh (phương thức tự tạo).

2. Phương thức chuyển hóa.

3. Phương thức vay mượn.

Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Âu (2000) đã đưa ra những nguyên tắc chủ yếu để xác định một địa danh như sau:

– Địa danh tự nhiên: đối tượng là địa lý tự nhiên được thực hiện theo nguyên tắc: địa phương, hình dạng, kích thước, màu sắc, mùi vị, âm thanh, đặc sản, thứ tự, phương hướng, vị trí dân tộc địa phương,tên người, lịch sử, truyển thuyết, kế thừa, đặc điểm chung.

– Địa danh kinh tế xã hội: cách này tác giả cũng phức tạp và đặt theo nguyên tắc sau: địa phương, đặc sản, nghề nghiệp, tình cảm, nguyện vọng, huyết tộc, tên người, dân tộc địa phương, lịch sử, tôn giáo, truyền thuyết, kế thừa, kích thước, thứ tự, vị trí, phương hướng, đặc điểm chung [tr.15-17] .

Trên đây, là một số phương thức và nguyên tắc đặt địa danh nói chung của một số nhà địa danh học Việt Nam, mỗi cách nhìn của các tác giả góp phần làm phong phú thêm ý nghĩa của tên gọi mà địa danh gợi ra cũng như địa danh đó phản ánh hiện thực điều gì. Điều đó còn cho thấy mối quan hệ hiện thực giữa tư duy, hiện thực và ngôn ngữ của con người khi đặt tên như thế nào.

1.2. LÝ THUYẾT VỀ TỪ NGỮ

1.2.1. Khái quát về từ

Từ là đơn vị của ngôn ngữ, nó có vai trò quan trọng để cấu thành nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản. Trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học khái niệm về từ đã được các nhà nghiên cứu bàn luận. Hiện nay có hơn 300 định nghĩa về từ nói chung, bởi lẻ có nhiều ngôn ngữ khác nhau thì hình thức ngữ âm, ngữ pháp của các từ có thể khác nhau. Chính vì thế nhiều khái niềm về từ đã được hình thành, song vẫn có sự thống nhất trên cơ sở từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ. Chúng ta có thể thấy một số định nghĩa về từ của một số tác giả tiêu biểu như sau:

A. Mây-Yê: Từ là một sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp âm nhất định. Có khả năng đảm nhận về một chức năng ngữ pháp nhất định [31, tr.36]. V. M.Solneev: Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: Âm và nghĩa có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời nói [31, tr.13 ].

Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [31, tr.104].

Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp [31, tr.36-37].

Theo Hoàng Phê cùng nhóm tác giả cuốn Từ điển tiếng Việt cho rằng “ Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định dùng để đặt câu” [36, tr.13-26].

Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “ chữ ” viết rời [32, tr.17]

Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “ Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu [17, tr.142]

Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [12, tr.18].

Như vậy các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về từ tiếng Việt xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau. Song cơ bản các định nghĩa đã đưa ra những đặc điểm cụ thể của từ, đó là những căn cứ quan trọng cho việc khảo sát về những từ ngữ chỉ địa danh huyện Núi Thành.

1.2.2. Khái quát về ngữ

Khi nói, viết, chúng ta thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu. Để tạo nên câu cần có từ. Các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào đó để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ.

Ngữ được gọi bằng một số tên gọi khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lưu Văn Lăng). Ngữ (hay cụm từ) là những cấu trúc gồm hai từ trở lên chúng kết hợp tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định [32, tr.75].

Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu. Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ.

Xét về mặt nghĩa, từ là một cấu tạo có tác dụng làm cho nghĩa câu chính tố được thực tại hóa, tức là có liên hệ với thực tại. Trong ngữ danh từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính xác định. Trong ngữ động từ, ngữ tính từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính hoạt động và tình thái. Xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cú pháp chính phụ. Phương tiện để biểu thị quan hệ chính phụ là trật tự, kết từ và ngữ điệu.

Theo Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cũng là một dạng cụm từ và tác giả cho rằng các loại cụm từ sau:

Cụm từ đẳng lập: có hai thành phần không phụ thuộc vào nhau, cùng giữ một chức vụ ngữ pháp,… ví dụ Tôi và anh / cùng đi chơi: Cụm từ “tôi và em” cùng làm chức năng chủ ngữ.

Cụm từ chủ vị: có hai thành phần c- v tác động qua lại lẫn nhau và cùng mang ý nghĩa tường thuật . Ví dụ: Em đi /làm anh nhớ, câu này có hai cụm từ: em – đi, anh – nhớ.

Cụm chỉnh phụ: gồm một thực từ làm hạt nhân và những thành tố phụ bao quanh hạt nhân [32, tr.77- 98]. Theo chúng tôi, thực ra thì cụm danh từ , cụm động từ, cụm tính từ đều là cụm chính phụ. Cụm danh từ thì danh từ là từ hạt nhân, cụm động từ thì động từ làm hạt nhân, cụm tính từ thì tính từ làm hạt nhân.

Tuy nhiên, theo chúng tôi cụm từ ngữ có cấu tạo khác nhau, cụm từ thường chỉ một tổ hợp từ ba từ đến sáu từ còn ngữ có thể có cấu trúc yếu tố phụ trước và sau. Thành ngữ là một loại cụm từ cố định nhưng chức năng ngữ nghĩa như từ.

1.3. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN NÚI THÀNH

1.3.1. Về địa lý tự nhiên

Huyện này được thành lập ngày 3 tháng 12 năm 1983 khi huyện Tam Kỳ được chia thành huyện Núi Thành và Thị xã Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng. Từ ngày 26 tháng 11 năm 1996 thuộc tỉnh Quảng Nam, gồm Thị trấn Núi Thành là huyện lị và 16 xã.

Núi Thành là huyện nằm phía Nam của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1983 trên cơ sở huyện Tam Kỳ.  Phía bắc giáp thành phố Tam Kỳ, phía nam giáp huyện Bình Sơn và huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp huyện Nam Trà My, phía đông giáp Biển Đông. Huyện có đường bờ biển dài 37 km với nhiều bãi tắm đẹp như biển Rạng, Tam Hải, Tam Tiến. Hiện có nhiều dự án du lịch biển lớn đang hoạt động như Le Domaine De Tam Hai, Cát Vàng Tam Tiến, Chu Lai Resort. Tam Hải là xã đảo duy nhất của huyện. Tọa độ địa lý: từ 108°34′ đến 108°37′ kinh độ Đông, từ 15°33′ đến 15°36′ vĩ độ Bắc. Với hệ tọa độ trên, Núi Thành nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thuộc phân vùng khí hậu Nam Việt Nam.

Diện tích của huyện là 533.03 km². Trong đó đất dành cho sản xuất nông nghiệp là 110.048 km² chiếm 21% diện tích đất tự nhiên của huyện. Phần lớn đất nông nghiệp được dành cho trồng lúa 2 vụ. Tam Xuân I, Tam Xuân II, Tam Hòa là các vựa lúa chính của huyện. Ngoài ra, Núi Thành cũng là huyện có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản lớn nhất tỉnh Quảng Nam. Đất lâm nghiệp với diện tích 172.09 km², chiếm 32.3% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã phía tây của huyện gồm Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Trà, Tam Mỹ Đông, và Tam Mỹ Tây. Đất thổ cư đạt 6 km² (chiếm hơn 1% diện tích đất tự nhiên của huyện). Điểm đáng chú ý là trong thành phần sử dụng đất, đất quân sự chiếm diện tích khá lớn so với các địa phương khác do có sự hiện diện của căn cứ Chu Lai với sân bay Chu Lai với diện tích hơn 40 km² chiếm gần 10% diện tích tự nhiên của huyện.

Núi Thành là huyện đồng bằng cực Nam của tỉnh Quảng Nam với địa hình nghiên từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Bằng đường bộ hướng Đông Tây từ các xã ven biển lên các xã vùng núi phía Tây ta có thể dễ dàng nhận ra sự thay đổi này. Nhìn tổng thể Núi Thành có các dạng địa hình sau:

Đồng bằng: phân bố ở các xã Tam Xuân I, Tam Xuân II, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hiệp, thị trấn Núi Thành, và xã Tam Nghĩa. Vùng này địa hình tương đối bằng phẳng, có một số đồi gò có độ dốc nhỏ. Nơi cao nhất là 69 m so với mặt biển. Dải ven biển: gồm các xã Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Quang và một phần xã Tam Nghĩa. Vùng này địa hình bằng và thấp, có nhiều cồn cát ổn định; một phần đồng bằng do các sông ngòi bồi đắp trên nền cát biển.

Vùng này nằm về phía đông của sông Trường Giang. Đất cát chiếm diện tích lớn nhất trong thành phần đất đai của khu vực này. Đây là vùng hạ lưu có nhiều đầm phá. Phá Trường Giang là phá lớn thứ hai của Việt Nam (sau phá Tam Giang tại Thừa Thiên – Huế). Ngoài ra, vùng này còn có nhiều bãi đá trầm tích nhô lên khỏi mặt biển từ 10 đến 12 m thuộc xã Tam Tiến, Tam Hải, Tam Quang như đảo hòn Ngang, Hòn Dứa, Bàn Than…

Hệ thống sông ngòi chảy qua huyện gồm sông Tam Kỳ, sông Trường Giang, sông Ba Túc, sông An Tân, sông Trâu. Các con sông này đều bắt nguồn từ phía tây, tây bắc chảy về phía đông đỏ ra biển qua cửa An Hòa và cửa Lỡ. Các sông đều có lưu vực nhỏ từ 50 đến 100 km², độ dốc lớn, chiều dài từ 20 đến 40 km, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Một số con sông được ngăn lại ở thượng nguồn làm hồ chứa nước như: hồ Phú Ninh trên sông Tam Kỳ, hố Thái Xuân trên sông Trầu. Các dòng sông của huyện đều hội tụ về phía đông tạo nên những vùng xoáy bồi đắp nên những cồn cát và tạo ra các đầm phá ở các xã Tam Quang, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Tiến.

Huyện Núi Thành nằm phía đông dãy Trường Sơn và phía nam đèo Hải Vân, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt độ trung bình hằng năm: 25.7 °C, nhiệt độ cao từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ thấp từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12. Lượng mưa trung bình trong năm là 2,531.5 mm. Huyện Núi Thành chịu sự chi phối của gió tây nam và gió đông nam hoạt động từ tháng 3 đến tháng 7, gió đông bắc hoạt động từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Hằng năm thường xuất hiện từ 8 đến 10 cơn bão ảnh hưởng đến huyện. Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 11 kết hợp với mưa lớn gây ra lũ lụt.

Tính đến ngày 01 tháng 04 năm 2009, dân số của Núi Thành đạt 142.020 người, trong đó nam giới chiếm 48.6%, nữ giới chiếm 51.8%. Người Kinh chiếm đại bộ phận dân số (98%), phần còn lại là người Co với dân số đạt 850 người sống chủ yếu tại thôn 4, thôn 6 và thôn 8 xã Tam Trà. Tổng số hộ là 34,280 hộ, trung bình mỗi hộ có 4.2 người, một tỷ lệ thấp so với các địa phương trong cả nước. Đa phần dân cư sống tại các xã đồng bằng ven biển, các xã vùng núi có diện tích lớn nhưng dân cư thưa thớt. Cùng với quá trình phát triển nhanh chóng của công nghiệp và dịch vụ, cụm các đô thị với trung tâm là thị trấn Chu Lai đang dần hình thành và mở rộng về phía Nam (Tam Nghĩa), phía Đông (Tam Quang) và phía Bắc (Tam Hiệp).

Phần đông dân cư hoạt động trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp. Năm 2006, trong tổng số 68,896 người trong độ tuổi lao động, số lao động trong khu vực 1 đạt 50,478 người (chiếm 73,26%. Các ngành công nghiệp, xây dựng thu hút 7,351 lao động (chiếm 10,66%). Khu vực III dịch vụ thu dụng 7,479 người (chiếm 11,07%). Tuy nhiên quá trình dịch chuyển kinh tế kéo theo sự dịch chuyển lao động rất nhanh từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ.

1.3.2. Địa lý hành chính

Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, cùng với sự thay đổi về địa lý, thể chế chính trị, Tam Kỳ – Núi Thành cũng có những thay đổi để phù hợp với sự phát triển của đất nước.

Vùng đất Tam Kỳ (chung), Núi Thành hiện nay, trước thế kỷ XV vốn là vùng đất Chiêm Động của Chămpa, sau chiến thắng của vua Hồ Hán Thương (1402) đã trở thành vùng đất thuộc châu Hoa thuộc lãnh thổ Đại Việt, đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập thành huyện Hà Đông, cùng với sự ra đời Thừa tuyên Quảng Nam.

Năm 1841, dưới thời vua Thiệu Trị, huyện Hà Đông trực thuộc phủ Thăng Hoa, sau đó đổi thành phủ Thăng Bình, có diện tích khá rộng, bao gồm cả huyện Tiên Phước và một số xã phía Nam huyện Thăng Bình ngày nay. Năm Thành Thái thứ 18 (1906), huyện Hà Đông tách khỏi phủ Thăng Bình, đổi thành phủ Tam Kỳ. Đến năm 1920, sau cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục hội, thực dân Pháp cắt một số xã phía Tây của phủ Tam Kỳ, sát nhập với các xã vùng thấp của Trà My để thành lập huyện Tiên Phước. Phần đất còn lại của phủ Tam Kỳ có 7 tổng, 157 xã; các tổng An Hòa, Đức Hòa, Đức Tân – thuộc huyện Núi Thành ngày nay, với 58 xã; các tổng Phú Quý, Chiên Đàn, Vĩnh Quý và Phước Lợi – thuộc thành phố Tam Kỳ và huyện Phú Ninh, có 99 xã.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, các đơn vị hành chính trước đây là phủ, huyện đều gọi chung là huyện – huyện Tam Kỳ, trong đó có thị trấn, thị xã Tam Kỳ được thành lập năm 1951, nằm trên địa bàn xã Tam Chánh. Thời kỳ tạm chiếm của Mỹ- ngụy, chúng chia Tam Kỳ thành ba đơn vị hành chính: quận Tam Kỳ, quận Lý Tín và xã Châu Thành, sau nâng lên thị xã Tam Kỳ, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Tín. Đối với ta, để thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ tháng 4 năm 1963, ta chia huyện Tam Kỳ thành ba đơn vị cấp huyện: Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ và thị xã Tam Kỳ. Sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 10 năm 1975 huyện Tam Kỳ được thành lập lại, thuộc tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, có 21 xã và thị xã Tam Kỳ. Đến tháng 12 năm 1983, theo Quyết định số 144 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), huyện được tách thành hai đơn vị hành chính: thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành, lấy sông Tam Kỳ cắt thẳng về hướng Đông làm ranh giới. Thị xã Tam Kỳ có 13 xã và 8 phường nội thị với diện tích 343,4 km2, dân số 196.000 người, mật độ 571 người/km2. Huyện Núi Thành có 12 xã và thị trấn Núi Thành (hiện nay có 16 xã và 01 thị trấn) với diện tích 533,03km2, dân số 140.457 người, mặt độ dân số 264 người/km2 (ngoài số đông người Kinh còn có một bộ phận người dân tộc thiểu số Cor hiện đang sống tại Tam Trà, Tam Lãnh.

Núi Thành là đơn vị hành chính được tách từ huyện Tam Kỳ (về sau thành thị xã Tam Kỳ, sau đó nâng cấp lên thành phố Tam Kỳ) theo Quyết định số 144/HĐB của Hội đồng Bộ trưởng ngày 3/12/1983. Huyện Núi Thành nằm ở phía cực Nam của tỉnh Quảng Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, có diện tích tự nhiên 533, trong đó đất nông nghiệp chiểm 7.703ha, đất lâm nghiệp chiếm 25.147ha, phía Đông là bờ biển dài 37km, phía Tây giáp huyện Bắc Trà My.

Từ khi tách ra từ huyện Tam Kỳ (1983) huyện Núi Thành có 14 xã và một thị trấn. Đến năm 2009 toàn huyện có 16 xã và 1 thị trấn. Gồm :Thị trấn Núi Thành, Xã Tam Trà, Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ Tây, Tam Hiệp, Tam Giang, Tam Quang, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Hòa, Tam Xuân 1, Tam Xuân 2,Tam Hải, Tam Tiến, Tam Nghĩa.

Huyện Núi Thành có số dân 148.187 người (2009) mật độ dân cư 278 người/km2, trong đó 80% sống bằng nông nghiệp.

Về địa thế huyện Núi Thành chia thành ba vùng: vùng ven biển gồm các xã nằm dọc theo phía đông sông Trường Giang như Tam Hòa, Tam Hải, Tam Quang, Tam Giang và phần phía đông xã Tam Nghĩa; vùng đồng ruộng nằm dọc theo quốc lộ 1A và đường sắt thống nhất Bắc – Nam như Tam Xuân 1, Tam Xuân 2,Tam Hiệp, Tam Nghĩa, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Tiến, Thị trấn Núi Thành, vùng bán sơn địa nằm giáp ranh dãy núi phía tây và phía nam gồm các xã Tam Sơn, Tam Trà, Tam Thạnh, Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ Tây, Tam Nghĩa.

1.3.3. Nguồn gốc dân cư, sắc thái văn hóa

a. Nguồn gốc dân cư

Theo Đại Việt sử kí toàn thư: Cuộc di dân lần thứ nhất vào năm 1403, đời Hồ Hán Thương, năm 1406 bị quân Chiêm Thành lần chiếm phải tạm lánh ra đèo Hải Vân. Cuộc di dân lần thứ hai vào năm 1474 đời Lê Thánh Tông đa số là tù nhân bị kết án lưu đi cận châu. Ngoài ra còn có một bộ phận di cư lẻ tẻ nhất là thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

Cũng như nhiều địa phương khác ở Nam Trung Bộ, cư dân huyện Núi Thành, đại bộ phận là cư dân nghèo ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ di cư vào, một số người do đấu tranh chống lại chế độ triều đình phong kiến bị bắt đày vào đây, một số khác là tù binh trong cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn được tổ chức khai khẩn ruộng đất theo chế độ “binh điền”. Đến vùng đất mới hoang vu, chiến tranh liên miên, lại bị bọn quan lại phong kiến áp bức, họ phải chịu đựng và vượt qua muôn ngàn khó khăn nguy hiểm, bền bỉ chống chọi với thiên nhiên, gan góc đấu tranh với bất công của xã hội. Đời nọ kế tiếp đời kia đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp.

Thành phần cư dân trên địa bạn huyện Núi Thành hiện nay là 142020 người (2009) chủ yếu là người Kinh chiếm trên 80% dân số và bên đó có một bộ phận người Cor do di cư từ các vùng cao, xuống sinh sống rải rác tại 4 thôn trên địa bàn xã Tam Trà.

b. Sắc thái văn hóa

Vùng đất Núi Thành sớm có người sinh sống. Các di chỉ Bàu Dũ, Bàu Nê (ở phía Đông Nam sông Tam Kỳ) Khu mộ Chum Tam Mỹ (Tam Xuân 1) Bàu Trám (Tam Anh Bắc), khu mộ Chum (Tam Giang)… gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng. Trải qua hàng ngàn năm lao động và chiến đấu, xây dựng và phát triển các thế hệ người dân ở Núi Thành đã sáng tạo, vun đắp, lưu truyền một nền văn hóa phong phú đa dạng, vừa thể hiện đặc điểm văn hóa của cả nước, của cả vùng, vừa thể hiện đặc trưng của địa phương. Đặc sắc là văn hóa Chămpa và sự kết hợp văn hóa Việt – Chăm. Vượt qua sự tàn phá của chiến tranh, của thời gian, của thiên nhiên, trên mãnh đất Núi Thành vẫn còn lưu giữ nhiều di tích văn hóa nổi tiếng. Đó là những đình làng được xây dựng từ thời xa xưa để thờ cúng tổ tiên hoặc tế lễ, hội hè như đình Chiêm Đàn, đình Phương Hòa, Mỹ Thạch… có giá trị cao về kiến trúc nghệ thuật Chăm pa như tháp Chiêm Đàn, phế tích An Mỹ, tháp Lạn, Khương Mỹ, Phú Hưng (Tam Xuân 1)… Những đình, đền, tháp đó cũng thể hiện sinh động nét tài hoa của những người thợ thủ công trong lịch sử. Núi Thành còn có một số cảnh đẹp gắn liền với di tích lịch sử như chùa Hang (Tam Nghĩa, cửa biển An Hòa và mũi Bàn Than…

Nhân dân Núi Thành còn nổi tiếng là hiếu học. Ngay từ đầu thế kỉ XIX (năm 1824) đã lập trường huấn học tại làng Chiêm Đàn (Tam Đàn), có nhiều nhà nho yêu nước, trong đó có các cụ như Dương Đình Thưởng, Dương Đình Thạc (Tam Sơn), Phan Bá Phiến (Tam Tiến )…

Núi Thành còn là địa phương có phong trào sáng tác thơ, văn khá phong phú, do các nhà Nho yêu nước khởi xướng vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Văn thơ yêu nước chủ yếu tập trung vào việc tố cáo, vạch mặt chính sách đô hộ dã man của thực dân, phong kiến, đồng thời kêu gọi các tầng lớp nhân dân đứng lên cứu nước thông qua các phong trào Cần Vương, Duy Tân… Bên cạnh văn thơ yêu nước của các tác giả có tên tuổi là ca dao, hò vè ca ngợi những tấm gương bất khuất trong phong trào yêu nước, nói lên nỗi thống khổ của nhân dân. Núi Thành phát triển hình thức hát bộ, hát phường cấy, hát đưa đò, hát ru em…Người dân vừa cấy vừa hát để thúc đấy lao động, hoặc buổi tối rủ nhau đi hát hò khoan đối đáp giữa nam và nữ.

Các sinh hoạt văn hóa ở Núi Thành vừa mang tính đặc trưng văn hóa Trung Bộ vừa phản ánh sắc thái riêng của một vùng quê giàu truyền thống đấu tranh cách mạng.

1.4. TIỂU KẾT

Qua những tiền đề lí luận và thực tiễn về địa danh nói chung và những nét khái quát về địa bàn huyện Núi Thành nói riêng, chúng tôi có vài nhận định như sau:

Nghiên cứu địa danh học là một vấn đề phức tạp, phong phú. Nếu như địa danh học ở thế giới đã bước sang giai đoạn phát triển từ lâu thì ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu địa danh vẫn đang giai đoạn hình thành. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu địa danh học ở Việt Nam đã giúp cho chúng ta một cái nhìn khác về địa danh đó là nó có một vị trí riêng không kém phần so với các lĩnh vực khác trong xã hội. Những cơ sở, đối tượng, phương pháp nghiên cứu về địa danh bước đầu được xác lập khiến những ai quan tâm tới vấn đề này đều cảm thấy hứng thú khi bước vào tìm hiểu. Bởi địa danh có mối quan hệ mật thiết với nhiều ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, muốn hiểu được chúng cần áp dụng phương pháp liên ngành.

Địa danh học là một bộ phận đặc biệt của bộ môn từ vựng học. Vì vậy nghiên cứu địa danh sẽ góp phần phản ánh đời sống ngôn ngữ, thể hiện qua nhiều mặc khác nhau như ngữ âm, ngữ pháp, phương ngữ. Nghiên cứu địa danh huyện Núi Thành cũng vậy. Qua những vấn đề thực tiễn về địa bàn có thể thấy rằng Núi Thành cũng thể hiện những nét đặc trưng riêng về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ bên cạnh sự giao thoa tiếp xúc với nhiều địa bàn khác

Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành, Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành. Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành. Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành Đặc điểm Địa danh huyện Núi Thành

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHXH&NV\quỳnh\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *