Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam

Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam

Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Là một giáo viên vùng cao, muốn vận động các em đến trường thì việc tìm hiểu phong tục tập quán của người dân nơi đây là vấn đề không thể thiếu. Đặc biệt, trước tình hình cán bộ và người dân gọi và viết tên làng, tên nóc… mắc rất nhiều lỗi và viết một cách tùy tiện. Với đề tài này sẽ đưa ra một vài đề xuất để viết địa danh. Và việc nghiên cứu đề tài này còn góp phần tìm thấy ý nghĩa, truyền thống, lịch sử văn hóa của huyện Nam Trà My. Đó là lý do khiến tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nguồn gốc, những biến đổi và ý nghĩa của các địa danh trên địa bàn huyện Nam Trà My, chú ý đặc biệt đến các địa danh gắn với phong tục tập quán và gắn với những sự kiện lịch sử có giá trị lịch sử, văn hóa trên huyện Nam Trà My.

Và có quy định thống nhất trong cách ghi địa danh Nam Trà My.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi của đề tài là nghiên cứu đặc điểm các địa danh trên địa bàn huyện Nam Trà My. Đề tài chỉ giới hạn trong các địa danh tự nhiên chính là: sông và suối, thác, dốc, thung lũng, núi, hố; đối với địa danh nhân tạo thì giới hạn trong phạm vi địa danh chỉ: châu, quận, huyện, xã, thôn, nóc, làng, tổ, cầu, tràn, đường, khu dân cư, trường, khu căn cứ, mật khu, cầu treo, thị trấn, chợ (bao gồm cả địa danh hành chính hiện hành và địa danh hành chính không còn hiện hành).

3.2. Đối tượng nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là địa danh huyện Nam Trà My, các địa danh đã và đang tồn tại trên địa bàn huyện này.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Các phương pháp nghiên cứu chính

Phương pháp tiếp cận tổng thể, phương pháp lịch sử, cụ thể, phương pháp điền dã, phương pháp thống kê, hệ thống hóa

4.2. Các cách tiếp cận chính

Tiếp cận từ các lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu địa danh. Tiếp cận từ thực tế điền dã. Bên cạnh đó còn tham khảo những kinh nghiệm sưu tầm, những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh.

5. Bố cục của đề tài

Luận văn chia làm ba phần: ngoài phần dẫn luận, kết luận, phần chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và khái quát địa danh huyện Nam Trà My

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo địa danh huyện Nam Trà My

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa địa danh huyện Nam Trà My

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT

ĐỊA DANH HUYỆN NAM TRÀ MY

1.1. CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH

1.1.1.Khái niệm địa danh và địa danh học

a. Khái niệm địa danh

Có thể hiểu địa danh là tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên hay nhân tạo do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Đây là đối tượng khảo cứu của chúng tôi trong luận văn này.

b. Địa danh học

1.1.2. Vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học

Vị trí của Địa danh học trong Ngôn ngữ học

1.1.3. Phân loại địa danh

a. Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài

Nêu một số cách phân loại của nhà nghiên cứu Pháp, Nga như: A.Dauzat, Ch.Rostaing, G.P. Smoliennaja và M.V. Gorbanevskij, A. V. Superanskaia…

Cách phân loại của các nhà nghiên cứu trên đây mới nhìn vào có vẻ khá hợp lý. Tuy nhiên hai nhà nghiên cứu Pháp, một người dựa trên ngữ nguyên, một người dựa vào nội dung của nó để phân loại. Do vậy mà cách phân loại của họ thiếu tính khái quát. Còn với hai nhà nghiên cứu Nga thì cách phân loại khá chi tiết và đầy đủ. Nhưng khi phân loại họ lại chưa chú ý đến các công trình dân sinh và xây dựng nhân tạo khác như cầu, cống, đập…mà đây là một trong những công trình đánh dấu sự tiến bộ của loài người và để lại dấu ấn văn hóa của các dân tộc.

b. Quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt Nam

Đưa ra một số cách phân loại của các nhà nghiên cứu Việt Nam: Trần Thanh Tâm, Nguyễn Văn Âu, Còn với Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường…

c. Quan niệm của tác giả luận văn

* Căn cứ vào loại hình:

– Địa danh thiên nhiên, gồm các loại địa danh sau:

+Sơn danh: núi, thung lũng, dốc

+Thủy danh: sông nước, hố, thác

– Địa danh nhân văn, gồm các loại địa danh sau:

+ Địa danh hành chính;

+ Địa danh các công trình dân sinh;

+ Địa danh các công trình di tích lịch sử, văn hóa.

* Căn cứ theo ngữ nguyên ta có:

– Địa danh có nguồn gốc thuần Việt;

– Địa danh có nguồn gốc Xê Đăng;

– Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp.

* Căn cứ theo số lượng âm tiết ta có:

– Địa danh đơn tiết;

– Địa danh phức.

1.2. LÝ THUYẾT VỀ TỪ NGỮ

1.2.1. Khái quát về từ

Dẫn ra một số khái niệm về từ của một số nhà nghiên cứu để làm cơ sở lý thuyết cho việc phân tích địa danh. Ví dụ: A. May-YêV, M.Solneev,Hồ Lê, Nguyễn Kim, Hoàng Phê, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Hữu Châu

Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam
Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam

1.2.2. Khái quát về ngữ

Dẫn các khái niệm của Đỗ Thị Kim Liên về các loại cụm từ sau: Cụm từ đẳng lập, cụm từ chủ vị, cụm chính phụ.

1.3. KHÁI QUÁT ĐỊA LÍ, SẮC THÁI VĂN HÓA HUYỆN NAM TRÀ MY

1.3.1. Địa lý tự nhiên

Huyện Nam Trà My là một trong những huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh Quảng Nam, có vị trí địa lý

Địa hình của huyện khá phức tạp hầu hết là đồi núi, núi ở đây dốc và nhiều thung lũng chằng chịt bị chia cắt bởi nhiều sông suối.

Huyện Nam Trà My nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt. Đất đai của Trà My có nhiều nhóm.

1.3.2. Địa lí hành chính

Vào thời kỳ các vua Hùng, Trà My thuộc vùng đất Việt Thường thị. Đến thời kỳ nhà Tần đô hộ nước ta, Trà My thuộc Tượng quận (214 đến năm 205 trước công nguyên), đời nhà Hán thuộc Tượng Lâm (từ năm 206 đến năm 192 sau công nguyên) và từ năm 192 đến cuối thế kỷ XIV thuộc vương quốc Chămpa.

Vào thời nhà Hồ (1400-1407), Vùng đất Trà My thuộc Châu Thăng. Vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập Đạo thừa tuyên Quảng NamVùng đất Trà My thuộc phủ Thăng Hoa.

Ngày 19.3.1947, ta thành lập châu Trà My, gồm cả vùng đất Trà My và Phước Sơn ngày nay. Tháng 6.1975, sau ngày đất nước thống nhất, huyện Nam Trà My và huyện Bắc Trà My được hợp nhất thành huyện Trà My.

Ngày 20 tháng 6 năm 2003, Chính phủ ban hành nghị định số 72/2003/NĐ-CP, chia tách huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam thành hai huyện Bắc Trà My và Nam Trà My như ngày nay

1.3.3. Vài nét về nguồn gốc dân cư và sắc thái văn hóa của huyện Nam Trà My

a. Nguồn gốc dân cư

Hiện tại dân số toàn huyện là 24.511 người (tính đến thời điểm tháng 9/2010), chủ yếu là đồng bào các dân tộc: Xê Đăng chiếm 35,40%, ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Môn Khơ Me của chủng người Nam Đảo, là một tiểu chủng sống lâu đời ở khu vực Trường Sơn và Tây Nguyên của Đông Nam Á.

Người Ca Dong chiếm 54,49% là một nhóm địa phương của dân tộc Xê đăng,

Chiếm 0,09% dân số toàn huyện, sống ở các xã vùng thấp đó là người Cor. Bhnoong là một nhóm tộc người thuộc dân tộc Giẻ – Triêng chiếm 7,11% sống chủ yếu ở Trà Leng. Số lượng người Kinh ở huyện chiếm 2,84%, dân số toàn huyện, sống chủ yếu ở thị trấn Tắk Pỏ. Thực tế vẫn chưa có một văn bản nào công nhận nhóm người Ca Dong là một dân tộc độc lập. Do vậy, trong suốt luận văn, tôi chỉ dùng tên Xê Đăng để gọi khi nói về dântộc thiểu số ở Nam Trà My. Và nhắc đến Ca Dong khi phân tích yếu tố địa phương có trong địa danh Nam Trà My.

b. Sắc thái văn hóa

Người Xơ Đăng chỉ “ngủ” ở lưng chừng núi. Đó là không gian họ được quyền sở hữu mà không xâm hại đến các thế giới khác cần được sự tôn trọng. Tên làng thường được đặt theo tên người đứng ra lập làng, theo những đặc điểm tự nhiên trong vùng (làng Cây Chong, làng Cây Đa,…)

Trước đây, vai trò chủ đạo trong sinh hoạt sản xuất gia đình do người phụ nữ đảm trách, vai trò, vị trí người phụ nữ trong nhà cao hơn người đàn ông. Đặc biệt, gia đình đồng bào Ca Dong rất quý trọng người con trai về ở rể. Đồng bào Ca Dong không tự dệt vải để làm trang phục chính của mình. Đàn ông thường đóng khố, cởi trần, vào những mùa giá lạnh thì khoác thêm tấm choàng. Phụ nữ, con gái mặc váy ống còn gọi váy chui và yếm che ngực. Đồ trang sức của người Ca Dong thông dụng nhất là vòng bạc, vòng đồng, chuỗi cườm đá…

Khi nói đến lễ hội của người Ca Dong thì phải nói đến các lễ hội như lễ hội đâm trâu huê, lễ hội cúng lúa mới và tục cúng máng nước. Đây là những nét đặc trưng trong văn hóa của người Ca Dong.

1.4. TIỂU KẾT

Trong chương 1, luận văn tập trung trình bày các cơ sở lý thuyết, các khái niệm cơ bản để làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu địa danh và địa danh học. Và trình bày về vấn đề địa lý, hành chính và văn hóa và dân cư ở huyện Nam Trà My.

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH HUYỆN NAM TRÀ MY

2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH NAM TRÀ MY XÉT THEO LOẠI HÌNH

Bảng 2.1: Kết quả thu thập địa danh huyệnNam Trà My xét theo loại hình

Tiêu chíLoại hìnhSố lượngTỷ lệ (%)
TổngĐịa danh

tồn tại

Địa danh không còn tồn tại
ThiênnhiênSơn danh1123006,45024,09
Thủy danh82017,640
NhânvănĐơn vị hành chính3532385951,1812,6975,91
Công trình dân sinh53011,400
Di tích lịch sử, văn hóa120,210,43
Tổng4654046186,8813,12100

Dưới đây là chi tiết loại hình địa danh:

2.1.1. Địa danh thiên nhiên

2.1.2. Địa danh nhânvăn

2.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH NAM TRÀ MY XÉT THEO NGỮ NGUYÊN

2.2.1.Địa danh có nguồn gốc thuần Việt

Kết quả thu được 121 địa danh (26,02%) trong đó:

– Địa danh thiên nhiên có 8 địa danh (1,7%). Ví dụ: dốc Võng, dốc Sỏ

– Địa danh nhân tạo có 113 địa danh (24,3%). Ví dụ: nóc Ông Anh, nóc Bến Đò…

2.2.2. Địa danh có nguồn gốc Xê Đăng

Địa danh có nguồn gốc Xê Đăng thu được là 318 địa danh chiếm 68,39 %. Ví dụ: Tak Lươi, Tak Nia, Tak Xa…

2.2.3. Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp

Số lượng địa danh có nguồn gốc hỗn hợp là 26 (5,59%).

– Thuần Việt với Pháp. Ví dụ: Đèn Pin

– Hán – Việt với Xê Đăng. Ví dụ: Nam Bền, Bắc Bền, Nam Trà My…

– Thuần Việt với Xê Đăng.Ví dụ: cầu Suối Kanh, Nước Xa, Nước Mân…

–Thuần Việt- HánViệt. Ví dụ: cầu Suối Đôi…

Bảng 2.2. Kết quả phân loại địa danh huyện Nam Trà My xét theo nguồn gốc ngữ nguyên

TTLoại địa danhSố lượngTỷ lệ (%)
1Nguồn gốc thuần Việt12126,02
2Nguồn gốc Xê Đăng31868,39
3Nguồn gốc hỗn hợp265,59

2.3. CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU THÀNH ĐỊA DANH NAM TRÀ MY

Tiếp thu ý kiến của những người đi trước và dựa vào đặc điểm lịch sử – địa lý của huyện Nam Trà My, chúng tôi đưa ra 6 phương thức định danh như sau: 1.Phương thức tự tạo; 2.Phương thức chuyển hóa; 3. Phương thức vay mượn;4. Phương thức song hành chuyển hóa; 5. Phương thức thay thế; 6.Phương thức ghép.

2.3.1. Phương thức tự tạo

a. Dựa vào các đặc điểm của chính bản thân đối tượng để đặt tên

a1. Gọi theo tính chất của đối tượng tồn tại nơi đặt địa danh

a2.Gọi theo phương hướng

b. Dựa vào những yếu tố đặc trưng liên quan đến đối tượng

b1. Gọi theo tên sông, tên suối, tên núi gần đối tượng định danh

b2. Gọi theo tên đơn vị quân sự

b3. Gọi theo tiếng kêu của con vật

b4. Gọi theo tên người

b5. Gọi theo tên đồ vật, thiên thể

b6. Gọi theo truyền thuyết, truyện dân gian

b7. Gọi theo công trình xây dựng, đơn vị hành chính gần đối tượng

b8. Gọi theo tên động – thực vật

c. Dùng số đếm để đặt địa danh

2.3.2. Phương thức chuyển hoá

a. Chuyển hóa nội bộ trong cùng loại địa danh

a1.Trong loại địa danh thiên nhiên

Núi Ngọc Nâm chuyển sang suối Ngọc Nâm;

a2. Trong loại địa danh nhân văn

Thị trấn Tak Pỏk chuyển sang chợ Tak Pỏk;

b. Chuyển hóa giữa các loại địa danh

b1. Địa danh thiên nhiên sang địa danh nhân văn

Núi Ngọc Linh chuyển sang trường TH Ngọc Linh;

b2. Địa danh nhân văn sang địa danh thiên nhiên

Cầu Suối Đôi chuyển sang suối Đôi (trước là suối Tak Lươi)

2.3.3. Phương thức vay mượn

a.Vay mượn địa danh từ nơi khác

b. Vay mượn từ ngôn ngữ khác

b1. Mượn ngôn ngữ Hán Việt

b2. Mượn ngôn ngữ Pháp

2.3.4. Phương thức song hành chuyển hóa

Lấy danh từ chung của ngôn ngữ Việt đặt trước danh từ chung của tiếng Xê Đăng để gọi tên, biến danh từ chung của tiếng Xê Đăng thành danh từ riêng:

– Mượn danh từ chung “suối” thay cho danh từ chung “tak”: suối Tak Lươi, suối Tak Rây, suối Tak Nầm…

– Mượn danh từ chung “núi” thay cho danh từ chung “ngok”: núi Ngok Ren Rây, núi Ngok Kon Ru, núi Ngok Kiếp Cang…

– Mượn danh từ chung “hố” thay cho danh từ chung “tông”: hố Tông Pôông, hố Măng Tông…

2.3.5. Phương thức thay thế

Hầu hết địa danh Nam Trà My có nguồn gốc Xê Đăng, trong quá trình giao lưu, cộng cư với người Kinh những địa danh này có sự thay đổi, đó là sự thay thế một số từ. Một số địa danh thuần Việt, hỗn hợp giữa Xê Đăng và Việt chiếm số lượng rất lớn.

– Dùng từ “Nước” thay cho từ “tak”

– Dùng từ chỉ đơn vị hành chính cùng nghĩa hay nói cách khác có nghĩa tương đương với đơn vị hành chính của dân tộc Xê Đăng.

2.3.6. Phương thức ghép

a. Ghép địa danh với số thứ tự

b. Ghép chữ cái với số

2.4. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH NAM TRÀ MY

2.4.1. Thành tố chung (danh từ chung)

a. Quan niệm về thành tố chung (danh từ chung)

có chức năng chỉ loại hình đối tượng, thường là danh từ (danh ngữ) chung, cóvị trí đứng trước địa danh và không viết hoa”.

b. Cấu tạo của thành tố chung

b1. Cấu tạo đơn

b2. Cấu tạo phức

Bảng 2.3: Bảng thống kê số lượng âm tiết của thành số chung

Số âm tiếtSố lượngTỉ lệ (%)Ví dụ
Một âm tiết1872Nóc Ran Run, suối Tak Nầm,…
Hai âm tiết416Cầu treo Sông Tranh,…
Ba âm tiết312Khu căn cứNước Là,…

2.4.2. Thành tố riêng (tên riêng)

a. Quan niệm về thành tố riêng

b. Cấu tạo thành tố riêng

b1. Cấu tạo đơn

b2. Cấu tạo phức

*Quan hệ đẳng lập

  1. Tính từ + tính từ:

Nóc Măng Tó (Măng có nghĩa là đen, Tó có nghĩa là cứng).

(2)Tính từ + động từ:

Nóc Tu Brông (nóc cũ – phóng)

(4) Tính từ + danh từ:

Nóc Mân Liệt (Mân có nghĩa là bằng, Liệt là tên loại cây)…

(5) Danh từ + Danh từ:

Nóc Wê Loát (nóc ngôi sao-đỉnh (núi)

* Quan hệ chính phụ

  1. Danh từ + tính từ:

Suối Tak (C) Ngheo (P): Suối nước lạnh.

(2) Danh từ + danh từ:

Suối Tak (C) Ók(P): Suối Nước cây môn.

(3) Danh từ + động từ:

Nóc Hi (C) Ló (P): Mặt trời mới mọc

(4) Danh ngữ + số từ:

Cầu treo Sông Tranh 1.

2.4.3. Phức thể địa danh Nam Trà My

a. Khái niệm phức thể địa danh

Như vậy, trong cấu trúc phức thể địa danh thì bộ phận tên riêng mới được coi là địa danh và địa danh này có cấu trúc nội bộ riêng, còn bộ phận từ ngữ chung đứng trước nó chỉ có tính chất xác định loại hình đối tượng địa lý được định danh. Khi địa danh thể hiện dưới dạng chữ viết thì bộ phận tên riêng được viết chữ hoa còn bộ phận từ ngữ chung chỉ viết chữ hoa khi đứng trong phức thể địa danh. Chẳng hạn: khu dân cư Làng Lê, làng Tak Ók…

Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam
Đặc điểm ngôn ngữ địa danh huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam

b. Sự chuyển hóa thành tố chung sang thành tố riêng

Như vậy khả năng hoạt động của thành tố chung tỏ ra khá linh hoạt. Có khi nó đứng trước tên riêng thì nó là từ chung chỉ loại, cũng có khi nó đứng chung hoặc trở thành một yếu tố trong tên riêng độc lập. Sự chuyển hóa thành tố chung vào tên riêng có nhiều cách thức khác nhau. Tuy nhiên, có thể chỉ ra 2 xu hướng chính:

b1. Chuyển hóa hoàn toàn thành tên riêng

b2. Chuyển hóa thành một bộ phận của tên riêng

*Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất

* Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ hai

*Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ ba

Bảng 2.4: Kết quả sự chuyển hóa thành tố chung thành các yếu tố trong tên riêng

Vị tríYT1YT 2YT3Tổng
Số lượng16091170
Tỉ lệ %94,125,290,59100

c. Bảng minh họa các yếu tố ngôn ngữ của phức thể địa danh

Bảng 2.5: Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Nam Trà My

Mô hìnhThành tố chung

(tối đa 3 âm tiết)

Thành tố riêng

(tối đa 5 âm tiết)

Ví dụ minh họaYT1YT2YT3YT1YT2YT3YT4YT5
NócTràTakBền
ThịtrấnTakPỏk
KhudâncưLàngNócÔngGiàNôn

2.5. CHUYỂN BIẾN ĐỊA DANH NAM TRÀ MY

2.5.1. Một số nguyên nhân làm biến đổi địa danh

a. Nguyên nhân bên ngoài ngôn ngữ

a1. Nguyên nhân chia tách, sáp nhập các đơn vị hành chính

a2. Nguyên nhân chính trị

a3. Nguyên nhân tâm lý xã hội

b. Nguyên nhân bên trong ngôn ngữ

b1. Phát âm sai dẫn đến viết sai địa danh

*Viết sai thanh điệu

*Viết sai các âm đầu:

* Viết sai các âm giữa:

*Viết sai các âm cuối:

b2.Mượn âm

c. Thay thế ngôn ngữ

2.5.2. Đặc điểm chuyển biến của địa danh huyện Nam Trà My

a. Đặc điểm chuyển biến của địa danh thiên nhiên

b. Đặc điểm chuyển biến của địa danh nhân văn

2.5.3. Một vài đề xuất khắc phục

2.6. TIỂU KẾT

Qua quá trình thu thập những tư liệu có được từ thực tế, đã tiến hành phân loại. Địa danh Nam Trà My xét theo loại hình có địa danh thiên thiên và địa danh nhân tạo, xét theo nguồn gốc ngữ nguyên thì địa danh Nam Trà My có địa danh có nguồn gốc thuần Việt, địa danh có nguồn gốc Hán Việt, địa danh có nguồn gốc Xê Đăng, địa danh hỗn hợp.

Địa danh Nam Trà My được cấu thành bằng 6 phương thức: Phương thức tự tạo, phương thức chuyển hóa, phương thức chuyển hóa song hành, Phương thức vay mượn, phương thức ghép, phương thức thay thế. Ta có thể thấy địa danh Nam Trà My hình thành là cả một quá trình biến đổi, chuyển hóa rất phức tạp và đa dạng. Đây cũng là đặc điểm chung của nhiều tỉnh thành trong cả nước khi phân tích về về địa danh.

CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA

ĐỊA DANH HUYỆN NAM TRÀ MY

3.1. BIỂU THỊ ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG QUA ĐỊNH DANH

3.1.1. Biểu thị vị trí, phương hướng của đối tượng định danh

3.1.2. Biểu thị đặc điểm hình dáng, địa hình của đối tượng định danh

Huyện Nam Trà My có địa hình ít bằng phẳng, chủ yếu là đồi núi xen kẽ là những con suối nhỏ, lắm thác ghềnh. Chỉ có con sông Tranh lớn chia địa hình Nam Trà My thành hai phần. Một phần bên tả, một phần bên hữu sông Tranh. Sông Tranh diện tích lưu vực là 10.000 ha, dài 100 km- là con sông lớn nhất huyện. Ngoài ra còn có các con sông quan trọng khác như: sông Leng, sông Là và nhiều con sông , con suối lớn nhỏ.

3.1.3. Biểu thị khung cảnh, môi trường liên quan đến đối tượng định danh

a. Phản ánh môi trường nơi được định danh

Phản ánh môi trường định danh là đặc trưng của địa danh nơi đây. Địa danh Nam Trà My tập trung phản ánh tên của các loại cây, tên của các con vật…

a1. Phản ánh hệ thực vật rất phong phú

Xét theo công dụng của chúng ta có:

– Cây lấy gỗ: nóc Long Dơn (cây Lim Trắng); nóc Long Chơn (cây Xoan Đào); nóc Măng Ri (Ri chỉ cây đa)….

– Cây ăn trái: nóc Xanh Dĩe (cây mướp xanh); nóc Tak Pan (cây cay); suối Tak Ngô (Ngô chỉ cây mè đen); nóc Tu B’ría (B’ría chỉ cây chuối); nóc Lăng Mu (cây cam); nóc Tak Lang (cây chuối rừng); nóc Tak Pốc (trái có nhiều múi giống trái mít nhưng tròn hơn, vỏ láng giống trái xoài)…

– Cây làm những vật dụng trong nhà: nóc Măng Liệt (Liệt là loại cây có thân dùng để đan chiếu); suối Tak Teng (Teng là tên của loại cây cao 1m đến 2m, dùng để đan dùng để đan teo, gùi…); suối Tak Chươm (Chươm là tên một loại cây dùng để nhuộm vải)…

a2. Phán ánh hệ động vật rất phong phú

– Loại động vật ăn thực vật: núi Kon Sall (con Đồi, to hơn chồn Bay ăn trái cây); Nóc Ran Run ( con dế, ăn cỏ); suối Tak Hmua (Con trâu, ăn cỏ và lá cây rừng)…

– Loại động vật ăn thịt: núi Ngok Kon Ru (con vật giống chó sói, sống thành bầy); suối Tak Lươi (cá Chình, ăn động vật tươi sống); nóc Tak B’Ru (con gấu, ăn động vật); nóc Rân Chuỗi (con chồn hôi, ăn sâu bọ và dế)…

– Loại động vật ăn thực vật và động vật: suối Tak Ie (con gà, vừa ăn thực vật vừa ăn động vật)…

b. Phản ánh khung cảnh nơi được định danh

Còn sông Tranh, tên của con sông này là Tak Nia (hoặc Tak Nin) nhưng được gọi thành sông Tranh, theo quan niệm của người Kinh “Tranh” là từ thuần Việt, phản ánh khung cảnh của dòng sông. Dòng sông có vẻ đẹp như tranh, và thực tế dòng sông này có dòng nước xanh biếc, có những đoạn sông uốn lượn quanh co, ẩn hiện trong lòng núi, hai bên bờ là một màu xanh bạt ngàn, đẹp như một bức tranh thủy mặc.

3.2. BIỂU THỊ ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ XÃ HỘI CỦA ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH

3.2.1. Phản ánh đặc điểm cư trú và sinh hoạt hàng ngày của cư dân

Mỗi cộng đồng người có thói quen lựa chọn các địa điểm quần cư khác nhau như người Việt thường có thói quen quần cư bên các nguồn nước, khu vực gần đầu mối giao thông, tổ tông của người Việt cũng là những nhóm người cư trú quanh dòng Sông Hồng.

Đối với người Xê Đăng lại có thói quen sống trên vùng núi cao. Nên địa danh có chứa yếu tố núi (ngok) là 31 địa danh chiếm 6,67%. Như: nóc Ngok Lê 1, nóc Ngok Nâm…

Tuy mỗi dân tộc có một đặc điểm văn hóa sinh hoạt khác nhau nhưng đều phản ánh ý thức đấu tranh chinh phục thiên nhiên và lối sống hòa hợp, tận dụng tự nhiên của dân tộc Việt Nam.

3.2.2. Phản ánh nghề nghiệp và các sản phẩm kinh tế đặc trưng của địa phương

Địa danh nóc Lấp Loa (tên gốc là Lăng Ploa) ở Trà Tập

Làng Tak Chươm (Chươm là tên cây nhuộm vải)

Hay nóc Mân Liệt là nóc trồng nhiều loại cây Liệt

Những ngành nghề truyền thống này đã làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân tộc Xê Đăng. Tuy nhiên chúng đang dần bị mai mọt và mất đi. Đây là mặt trái của việc giao lưu về kinh tế và văn hóa giữa các dân tộc. Chính quyền địa phương cũng đang ra sức khôi phục lại một số nghề truyền thống ở nơi đây.

Ở đây ta có thể biết thêm vai trò của địa danh, không chỉ là gọi tên mà nó còn lưu giữ những giá trị văn hóa đã bị lãng quên.

3.2.3. Phản ánh sự kiện, biến cố lịch sử và quân sự

Tinh thần yêu nước của người dân Nam Trà My là những giá trị văn hóa phi vật thể. Đó là khi có ánh sáng Cách mạng của Đảng soi sáng, người dân Nam Trà My chung sức, chung lòng cùng nhau đánh đuổi giặc Pháp giải phóng hoàn toàn huyện Nam Trà My, là nơi nuôi dưỡng, bảo vệ cơ quan đầu não của Cách mạng ta. Những căn cứ Cách mạng như mật khu Đỗ Xá, căn cứ Nước Là, giờ trở thành khu di tích Nước Là.

Địa danh gắn với những cái tên của những chiến sĩ Cách mạng như phần nào thể hiện sự biết ơn sâu sắc, nhắc nhở nhau không bao giờ quên những còn người này.

3.2.4. Phản ánh quá trình chuyển đổi hành chính dân cư

Địa danh là bằng chứng thiết thực nhất phản ánh quá trình chuyển đổi hành chính dân cư. Ở Nam Trà My vấn đề này cũng khá phổ biến. Xuất phát từ tên gọi những động thực vật quen thuộc, người có uy tín, có công… Tất cả đều trở thành những địa danh thiên nhiên, sau đó chuyển đổi thành địa danh nhân văn. Ví dụ như: núi Ngọc Nâm chuyển thành nóc Ngọc Nâm, suối Tak Chươm thành khu dân cư Làng Tak Chươm, suối Tak Xpo trở thành nóc Tak Xpo…

3.2.5. Phản ánh nguồn gốc dân cư

Khác với các địa danh ở các huyện khác trong tỉnh Quảng Nam, từ địa phương là những từ như : đi mô, răng, rứa…mang đặc trưng âm hưởng của người miền Trung.

Ở Nam Trà My, hầu như không có ảnh hưởng bởi các yếu tố đó. Tuy nhiên Ca Dong được xem là một nhánh địa phương của dân tộc Xê Đăng, do vậy mà trong ngôn ngữ của người Ca Dong dùng cũng phần nào phản ánh yếu tố ngôn ngữ địa phương.

3.2.6. Phản ánh quá trình tiếp xúc ngôn ngữ

Qua nghiên cứu lịch sử hình thành Nam Trà My, cho thấy nguồn gốc dân cư trên địa bàn huyện là người Xê Đăng của các huyện từ Kon Tum chuyển qua lánh nạn trong chiến tranh. Tập trung theo những con sông, con suối. Ban đầu là Trà Linh sau chuyển dần xuống Trà Mai, Trà Leng. Và một ít người Bnoong từ Phước Sơn chuyển qua. Sau quá trình giao lưu buôn bán, người Kinh đã cộng cư với người Xê Đăng và người Tàu. Do vậy, sự giao thoa văn hóa, ngôn ngữ diễn ra rất mạnh mẽ giữa các dân tộc với nhau. Đặc biệt là dân tộc Kinh.

3.3. BIỂU THỊ PHONG TỤC TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG VÀ ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG

3.3.1. Phản ánh đời sống tâm linh

a. Phong tục thờ cúng – thờ cúng thần nước

b. Văn hóa chữ tín

c. Tâm lý linh thiêng hóa con vật nhỏ bé, cây to

d. Phản ánh tâm lý tôn thờ người có công

c. Thể hiện mong ước của người dân

3.3.2. Phản ánh phong tục tập quán

a. Phản ánh phong tục ăn trầu

b. Tập tục du canh du cư

3.4. NGỮ NGHĨA MỘT SỐ YẾU TỐ THUỘC ĐỊA DANH NAM TRÀ MY

3.4.1. Ngữ nghĩa một số yếu tố có nguồn gốc Xê Đăng

a. Ngữ nghĩa một số yếu tố thuộc địa danh thiên nhiên có nguồn gốc Xê Đăng

b. Ngữ nghĩa một số yếu tố thuộc địa danh nhân văn có nguồn gốc Xê Đăng

3.4.2.Ý nghĩa của một số địa danh

a. Một số địa danh có nguồn gốc rõ ràng

a1. Ngọc Linh

a2. Nước Xa

a3. Trà Mai

b. Một số địa danh nguồn gốc và ý nghĩa còn đang tranh cãi

b1. Trà My

b2. Phúc Lục

b3. Tak Pỏk

c. Một số địa danh là truyền thuyết, truyện dân gian

c1. Kiếp Cang

c2. Tak Nia

c3. Tak Bền

3.5. TIỂU KẾT

KẾT LUẬN

1. Huyện Nam Trà My là một địa bàn phức tạp về địa lý, lịch sử, dân cư, ngôn ngữ, văn hóa. Đặc điểm này được phản ánh khá rõ trong địa danh nơi đây. Đó là địa bàn có đối tượng địa lý khá phong phú, đa dạng. Địa hình, đồi núi, sông ngòi, nằm xen kẽ với các khu dân cư, các công trình xây dựng nhân tạo, làm cho cho nơi đây có những nét độc đáo, riêng biệt, so với các địa bàn khác trong cả nước. Các địa danh này được định danh bằng các phương thức khác nhau và sử dụng các yếu tố nguồn gốc ngôn ngữ khác nhau. Ngoài dân tộc Xê Đăng, còn có một cồng đồng nhỏ đồng bào Việt, Cor, Bhnong sinh sống nơi đây, ít nhiều nó cũng ảnh hưởng đến nét văn hóa riêng của người bản địa, và làm cho văn hóa chung của huyện Nam Trà My thêm đặc sắc, giàu tính nhân văn.

2. Địa bàn huyện Nam Trà My, nằm trong một cấu trúc phức thể nhất định. Tên riêng được mô hình hóa bằng cấu trúc phức thể gồm hai bộ phận: thành tố chung và thành tố riêng (tên riêng), mỗi bộ phận có vai trò, chức năng riêng nhưng được đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, thống nhất với nhau. Bộ phận danh từ chung thường đứng trước và là cái hạn định cho đối tượng địa lý. Ở mọi loại hình địa danh, các danh từ chung chuyển hóa thành yếu tố tham gia vào cấu tạo nên thành tố riêng ( tên riêng) của địa danh. Sự chuyển hóa này tạo nên tính tầng bậc đa dạng cho địa danh về cấu tạo lẫn ý nghĩa phản ánh. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh nơi đây cũng như nhiều nơi khác các yếu tố trong tên riêng cũng có độ dài ngắn khác nhau tối đa là 3 yếu tố.

3. Địa danh huyện Nam Trà My được cấu tạo theo 6 phương thức tất cả: phương thức tự tạo, phương thức chuyển hóa, phương thức vay mượn, phương thức song hành chuyển hóa, phương thức thay thế, phương thức ghép. Điều đó đã tạo nên sự khác biệt so với các địa bàn khác trong cả nước về phương thức định danh. Trong cả 6 phương thức, thì phương thức tự tạo giữ vai trò chủ yếu. Phương thức này đã tạo nên nhiều kiểu cấu tạo của địa danh. Tuy nhiên làm nên sự khác biệt về cấu tạo địa danh so với vùng khác thì chỉ có phương thức song hành chuyển hóa. Những phương thức cấu tạo này đã tạo nên một hệ thống địa danh rất đa dạng, phong phú, đồng thời chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với những đặc điểm về địa lí., văn hóa, dân tộc, lịch sử. Những đặc điểm đó góp phần tạo nên nét riêng, đặc sắc cho địa bàn này.

4. Ít nhiều, địa danh ở Nam trà My đã phản ánh được một số mặt lịch sử, kinh tế,chính trị, ngôn ngữ, văn hóa, địa lý, dân tộc,… cho chúng ta cái nhìn toàn cục về vùng đất mới này. Ngoài hầu hết những địa danh ra đời có lý do, địa danh nhân tạo hay địa danh thiên nhiên, địa danh một âm tiết hay nhiều âm tiết đều xuất phát từ ngôn ngữ bản địa của vùng, chỉ có một số địa danh có ngôn ngữ vay mượn từ tiếng dân tộc khác. Những bí ẩn về xuất xứ của một tên gọi là những bí ẩn thú vị, hấp dẫn đang cần chúng ta đào sâu khám phá. Không chỉ thể hiện ở mặt ngôn ngữ, địa danh huyện Nam Trà My còn biểu hiện tính văn hóa đa dạng. Văn hóa miền núi và văn hóa đồng bằng được hòa lẫn. Nam trà My cũng vậy, cũng tiếp nhận một lực lượng dân di cư khổng lồ mang theo trong mình những phong tục tập quán, tín ngưỡng từ tỉnh Kon Tum. Nhưng yếu tố văn hóa Việt vẫn giữ vai trò làm phong phú thêm văn hóa của vùng. Dấu ấn đó thể hiện rõ qua mặt ngôn ngữ của địa danh. Những từ Hán Việt, những địa danh gốc Pháp,… đều được người dân tiếp nhận một cách sáng tạo. Từ ngữ cấu tạo nên địa danh một mặt thể hiện nét văn hóa vật chất, mặt khác phản ánh nét văn hóa tinh thần, đó là những giá trị hiện thực quý giá mà địa danh Nam Trà My đã có được.

5. Địa danh Nam Trà My đã giữ dấu ấn văn hóa phi vật thể trong những thời kì lịch sử khác nhau của địa bàn. Các đặc điểm văn hóa được thể hiện trong địa danh luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau. Điều đó được biểu hiện qua lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa tâm lí ứng xử của con người với môi trường sống. Tất cả những điều đó đã tạo vùng đất nơi đây giàu bản sắc văn hóa và người dân nơi đây luôn có ý thức giữ gìn những giá trị văn hóa đó.

6. Đặc biệt, qua khảo sát nghiên cứu quá trình hình thành và biến đổi địa danh, chúng tôi thấy có sự giao lưu tiếp biến ngôn ngữ văn hóa giữa người Kinh và người Xê Đăng. Hiện tượng Kinh hóa địa danh Xê Đăng dẫn đến thành tố chung có cả tiếng Việt và tiếng Xê Đăng, dần dà yếu tố Xê Đăng trở thành yếu tố tạo nên tên riêng.

Trong quá trình khảo sát, thống kê và phân tích chúng tôi còn nhiều thiếu sót và nhiều vấn đề ngôn ngữ học chưa được giải quyết thỏa đáng nhưng chúng tôi hy vọng những gì đã trình bày ở trên sẽ góp một phần nhỏ nhoi vào ngành địa danh học nước ta.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHXH&NV\hải\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *