Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

1. Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 60 chợ và khoảng 15.000 hộ kinh doanh (số liệu Sở Công Thương Đà Nẵng) phần lớn lượng hàng hóa luân chuyển qua kênh phân phối này, đây thực sự là kênh phân phối hữu hiệu cho hàng Việt cũng như để phát triển sâu rộng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Là một thị trường đầy tiềm năng với những ưu thế vốn có của mình chợ truyền thống đã đáp ứng nhu cầu mua sắm của đông đảo người dân từ bao đời nay, cung cấp hàng hóa đa dạng về chủng loại lẫn giá cả, đặt biệt chợ truyền thống là nơi thuận bán vừa mua, không những thế đây là nơi các tiểu thương lấy hàng sản lượng lớn với giá ưu đãi,…

Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế như nước ta hiện nay thì chợ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Đặc biệt khi mà đời sống người dân đang từng bước được cải thiện thì nhu cầu tiêu dùng hàng hóa ngày càng nhiều hơn, phong phú và đa dạng hơn.

Là một loại hình tổ chức thương mại hỗn hợp, Chợ đã xuất hiện từ rất lâu và đã ăn sâu vào tiềm thức mua bán của người dân. Thông qua việc sinh hoạt chợ và các loại hình tổ chức thương mại cho thấy được sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một vùng, một địa phương.

Tuy nhiên, chợ truyền thống vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, sức cạnh tranh so với siêu thị còn nhiều hạn chế như: giá cả không được niêm yết, giá hàng hóa nhiều lúc còn cao, thậm chí cao hơn giá trong các siêu thị, mẫu mã hàng hóa không đẹp. Mặt khác, phong cách phục vụ tại các chợ truyền thống cùng với chất lượng sản phẩm, cũng như việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề được nhiều người quan tâm,… vì vậy vấn đề đặt ra là với xu hướng hiện nay trong khi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng những năm qua có rất nhiều các siêu thị, cửa hàng bán lẻ hiện đại văn minh nổi lên với phong cánh phục vụ khách hàng tận tình, chu đáo và có nhiều ưu đãi đối với khách hàng,… Liệu những điều này có khiến người dân đang dần dần quay lưng với chợ truyền thống?

Thực tế hệ thống chợ truyền thống ở nước ta còn tồn tại nhiều yếu kém: cơ sở vật chất nhìn chung còn rất nghèo, lạc hậu. Việc đầu tư xây dựng còn thiếu sự chỉ đạo thống nhất, việc xây dựng chợ còn vội vàng thiếu sự tính toán điều tra khảo sát vào nhu cầu thực tế. Công tác quy hoạch chợ còn chưa đồng nhất và chưa phù hợp với sự phát triển của từng vùng từng địa phương. Nhiều chợ sau khi xây dựng đã đi vào hoạt động nhưng không mang lại hiệu quả

Măt khác Việt Nam đang trên con đường hội nhập về kinh tế đòi hỏi hoạt động thương mại ngày càng phải diễn ra mạnh mẽ hơn, hệ thống chợ phải hoạt động có hiệu quả hơn, hiện đại hơn nhằm đẩy mạnh hoạt động mua bán tại các chợ.

Xuất phát từ các lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn Thạc sỹ nhằm góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại ở các chợ truyền thống hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển chợ truyền thống.

– Phân tích thực trạng phát triển chợ truyền thống tại Đà Nẵng ;

– Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu trong việc khai thác, quản lý chợ hiện nay.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về Phát triển chợ và phát triển chợ truyền thống

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc phát triển chợ truyền thống tại Đà Nẵng hiện nay

Không gian: Đề tài được thực hiện trong phạm vi thành phố Đà Nẵng.

Thời gian: Các giải pháp, đề xuất trong luận văn từ nay đến năm 2020

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương pháp sau:

– Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc

– Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát hóa

– Và các phương pháp khác,…

5. Bố cục luận văn

Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1. Cơ sở lý luận chung về phát triển chợ truyền thống

Chương 2. Thực trạng phát triển và quản lý chợ tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3. Phương hướng, giải pháp phát triển chợ truyền thống tại Đà Nẵng

6. Tổng quan nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT

TRIỂN CHỢ TRUYỀN THỐNG

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỢ TRUYỀN THỐNG

1.1.1 Khái niệm về chợ truyền thống

a. Khái niệm về chợ

Theo định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt đang được lưu hành: “Chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định”

Theo Đại Từ điển tiếng Việt – NXB Từ điển Bách Khoa – 2003 (tr.138) (2) Theo Đại Từ điển tiếng Việt – NXB Văn hoá Thông tin – 2004 (tr.155) “Chợ là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên)…

Theo khái niệm thường dùng trong lĩnh vực thương mại: chợ là loại hình thương nghiệp phát triển khá phổ biến ở nước ta; chợ là hiện thân của hoạt động thương mại, là sự tồn tại của không gian thị trường mỗi vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng biên giới và tập trung nhiều nhất ở các vùng đô thị các thành phố lớn.

b. Khái niệm về chợ truyền thống

Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ :

Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư.

Phạm vi chợ: là khu vực kinh doanh dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ.

Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu, thu hút, tập trung lượng hàng hóa từ các nguồn, sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.

Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm.

Chợ bán kiên cố: là chợ được xây dựng đảm bảo có thời gian sử dụng từ 5 năm đến 10 năm.

Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3m2/điểm.

Như vậy chợ truyền thống là khái niệm để chỉ một loại hình kinh doanh được phát triển dựa trên những hoạt động thương mại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa- dịch vụ được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư.

Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

1.1.2. Phân loại chợ truyền thống

– Phân loại chợ theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ:

Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ, có các loại chợ như sau :

– Loại 1: là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch; được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức thường xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác.

– Loại 2: là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường.

– Loại 3: là các chợ dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố; chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và địa điểm phụ cận.

– Phân loại chợ theo tính chất mua bán:

Dựa theo tiêu thức này người ta có thể chia chợ ra làm hai loại là chợ bán buôn và chợ bán lẻ.

Chợ bán buôn : Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao trên 60-70%, đồng thời vẫn có bán lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ. Thường tập trung bán buôn ở các chợ cấp vùng và cấp thành phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động lớn tập trung khối lượng hàng hoá lớn, hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom hàng hoá và phân luồng hàng hoá các nơi. Các chợ này thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, cho chợ bán lẻ và ngoài khu vực, nhiều chợ là nơi thu gom hàng xuất khẩu.

Chợ bán lẻ: là những chợ thuộc cấp xã, phường (liên xã, liên phường), cụm dân cư hàng hoá qua chợ chủ yếu là bán lẻ, bán chủ yếu cho người tiêu dùng trực tiếp hàng ngày.

– Phân loại theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh: Có chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh.

Chợ tổng hợp: Là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngành khác nhau. Trong chợ, tồn tại nhiều loại mặt hàng như: hàng tiêu dùng (quần áo, giày, dép, các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng gia dụng…), công cụ lao động nông nghiệp (cuốc, xẻng, liềm, búa…), cây trồng, vật nuôi… chợ đáp ứng nhu cầu toàn bộ của khách hàng.Hình thức chợ tổng hợp này thể hiện những đặc trưng của chợ truyền thống, ở nước ta hiện nay loại hình này vẫn chiếm ưu thế về số lượng cũng như về thời gian hình thành và phát triển.

Chợ chuyên doanh: là chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu, mặt hàng này thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời có bán một số mặt hàng khác, các loại hàng khác có doanh số dưới 40% tổng doanh thu. Nhiều chợ chỉ chuyên doanh một hoặc một nhóm mặt hàng nhất định, như chợ hoa tươi, chợ vật liệu xây dựng, chợ cá biển, chợ rau quả, chợ cây cảnh, chợ tôm, chợ giống, chợ bò sữa…

– Theo địa giới hành chính:

Có hai loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chọ đô thị và chợ nông thôn.

Chợ đô thị: Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị trấn. Do ở đây, đời sống văn hóa có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên các chợ ở thành phố có tốc độ đô thị hóa cao hơn ở nông thôn, văn minh thương mại cũng được chú trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường bổ xung và hoàn chỉnh. Phương tiện để phục vụ mua bán, hệ thống truyền thông và dịch vụ ở chợ này thường tốt hơn các chợ ở nông thôn. Tuy nhiên, như thế đồng nghĩa với việc các chợ ở đô thị sẽ mang tính hiện đại của một loại hình thương mại mới và tính truyền thống trong chợ sẽ dần dần bị mai một.

Chợ nông thôn: là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm cụm xã. Hình thức mua bán đơn giản, dân dã (có nơi, như ở một số vùng núi người dân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy, sạp có quy mô nhỏ, lẻ, manh mún. Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm đà bản sắc truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, các vùng lãnh thổ khác nhau.

– Phân loại theo tính chất và quy mô xây dựng:

Theo tiêu thức này có ba loại chợ là: chợ kiên cố, bán kiên cố và chợ tạm.

Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đầy đủ các yếu tố của một công trình kiến trúc, có độ bền sử dụng cao. Chợ kiên cố thường là chợ loại I có diện tích đất hơn 10.000 m2 và chợ loại II có diện tích đất 6.000 m2 đến 9.000 m2. Các chợ kiên cố lớn thường nằm ở các tỉnh thành phố lớn, các huyện lỵ, thị trấn và có thời gian tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và là trung tâm mua bán của cả vùng rộng lớn.

Chợ bán kiên cố: là chợ chưa hoàn chỉnh, bên cạnh những hạng mục xây dựng kiên cố (cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mục xây dựng tạm như lán, quầy bán hàng… độ bền sử dụng không cao và thiếu tiện nghi. Chợ bán kiên cố thường là chợ loại III, có diện tích đất 3.000m2 – 5.000m2. Chợ này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn xa xôi, chợ liên xã, liên vùng, các khu vực ngoài thành phố lớn.

Chợ tạm: là chợ mà những quầy sạp bán hàng là những lều quán được làm có tính chất tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ nhanh chóng và ít tốn kém. Loại chợ này thường hay tồn tại ở các vùng quê, các xã, các thôn, có chợ được dựng lên để phục vụ trong một thời gian nhất định (như tết, lễ hội…).

1.1.3. Vai trò của chợ truyền thống

Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, chức năng chính của chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hay trao đổi các sản phẩm, hàng hóa khác nhau. Ngày nay rất nhiều cửa hàng, siêu thị phát triển, chợ điện tử cũng đã hoạt động mạnh mẽ, nhưng chợ truyền thống vẫn là kênh chính trao đổi, chuyển hóa giữa sản xuất và tiêu thụ, giải quyết nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Đồng thời đây cũng là nơi giao lưu mua bán với các mặt hàng đa dạng, là kênh phân phối các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm tươi sống, đặc biệt đóng vai trò quan trọng đối với người tiêu dùng nghèo.

– Đối với sản xuất

Chợ là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Chợ phản ảnh nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của từng địa phương về số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa để nhà sản xuất điều chỉnh sản xuất sao cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng xã hội, đáp ứng kịp thời các nhu cầu của thị trường. Thông qua kênh phân phối chợ giúp cho nhà sản xuất đưa hàng đến tay người tiêu dùng và ngược lại thông qua chợ người tiêu dùng có được nhiều sự lựa chọn hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu mua sắm.

– Đối với phát triển thương mại

Chợ đã góp phần tăng giá trị ngành thương mại trên địa bàn và góp phần tăng thu ngân sách. Theo thống kê, tỷ trọng hàng hóa dịch vụ bán lẻ qua hệ thống chợ chiếm khoảng 60% tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ toàn xã hội, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế – xã hội các địa phương, thể hiện vai trò quan trọng trong việc tham gia bình ổn thị trường, đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng của nhân dân. Hoạt động mua bán qua mạng lưới chợ là một kênh quan trọng tiêu thụ hàng nông, lâm, thủy, hải sản và sản phẩm các làng nghề, cung ứng vật tư cho sản xuất địa phương đối với chợ nông thôn và phục vụ đời sống sinh hoạt dân cư trong khu vực. Chợ phát triển tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng mạng lưới kinh doanh, tạo thuận lợi cho trao đổi và mua bán hàng hóa của các cư dân trên địa bàn, góp phần cải thiện đời sống cho các tiểu thương tham gia chợ và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp nhà vườn.

– Đối với phát triển xã hội và giải quyết việc làm

Các thương nhân kinh doanh tại chợ đa số là người buôn bán nhỏ lẻ, nơi đây là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, thông qua chợ đặc biệt các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các đặc sản của địa phương và sự giao lưu tập quán tiêu dùng, văn hóa vùng miền được truyền bá khắp mọi miền tổ quốc.

Chợ là nơi giải quyết việc làm cho nhiều người lao động đặc biệt là những người lao động phổ thông không có trình độ học vấn cao, khó hoặc không thể xin việc tại các doanh nghiêp đòi hỏi có trình độ về tri thức. Chỉ với phép tính đơn giản sau; nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc, những nhân viên bán hàng, người phục vụ tổ chức nguồn hàng để đưa về chợ… thì số người lao động tại chợ sẽ tăng lên đến 2 hoặc 3 lần so với số lượng người chỉ buôn bán trực tiếp ở chợ. Chính vì điều này chợ đã giải quyết được một số lượng công việc lớn cho người lao động, đồng thời giải quyết một lượng lao động không thường xuyên tham gia các dịch vụ hỗ trợ hoạt động chợ như vận chuyển, bốc xếp, sơ chế, đóng gói bao bì…. Ngoài những người tham gia buôn bán trực tiêp tai chợ chúng ta còn phải nói đến một số lượng Cán bộ công nhân viên phục vụ tại các chợ để đảm về mặt an ninh chợ và công tác quản lý chợ.

– Về việc giữ gìn bản sắc dân tộc và đối với người dân

Có thể nói, chợ là bộ mặt kinh tế xã hội của một địa phương và là nơi phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của một vùng dân cư. Tính văn hóa của chợ được thể hiện rõ nhất là các chợ ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa hơn là các chợ tại các đô thị lớn hay ở thành phố. Ngoài mục tiêu mua bán còn đến chợ là nơi giao tiếp, trao đổi công việc.

Chợ còn là nơi hò hẹn của các đôi trai gái, vì vậy người dân miền núi thường gọi là đi “chơi chợ” thay cho từ đi chợ mua sắm như người dưới xuôi thường gọi. Các phiên chợ này nó tồn tại từ lâu đời và nó là những bản sắc văn hóa vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta.

Ở miền núi vùng cao, vùng sâu vùng xa, chợ là điểm duy nhất hội tụ đông người. Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, nhiều thôn bản và nhiều các dân tộc người thiểu số. Vì thế đã từ lâu chính quyền địa phương đã biết lấy chợ là nơi phổ biến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước.

* Đặc điểm chợ truyền thống

Chợ là một địa điểm công cộng mà tại đó việc mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt của mọi người. Bất cứ ai có nhu cầu đều có thể thực hiện mua bán, trao đổi hàng hóa mình mong muốn.

– Sự hình thành của chợ do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ của con người. Chợ có thể hình thành một cách tự phát hoặc quá trình nhận thức sự tự giác của con người.

– Các hoạt động mua, bán trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường diễn ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian nhất định có thể theo ngày, buổi phiên. Thời gian và chu kỳ họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ cũng đồng nghĩa với việc thói quen, tập quán mua bán hàng hóa đã được hình thành và duy trì trong một thời gian dài qua nhiều năm; tính ổn định và thuận tiện trong phục vụ nhu cầu mua sắm của dân cư trong khu vực cơ bản được khẳng định; khả năng thâm nhập, tiếp cận sâu tới người tiêu dùng là rất cao

– Chợ truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam, thể hiện trong giao dịch và trong văn hóa của chợ, các mặt hàng mang tính truyền thống đặc trưng của từng vùng, miền hầu hết đều được bán tại chợ, người tiêu dùng khi đến chợ của một địa phương nào thường muốn mua hàng truyền thống của địa phương đó. Việc đưa những mặt hàng truyền thống, đặc trưng của vùng, miền vào chợ truyền thống sẽ biến nơi đây thành một kênh quảng bá, tiêu thụ hàng Việt rất hiệu quả.

– Hàng hóa ở chợ có ưu điểm thường là tươi mới, đa dạng, phong phú và nổi tiếng với một số thực phẩm tươi sống (gà, vịt và thuỷ hải sản, rau, củ…), các loại hoa tươi và trái cây tươi, đặc biệt là những gian hàng mắm (mắm dưa, mắm cà, mắm tôm…) du khách thường thích mua về làm quà – các món ăn rất đặc trưng cho từng vùng miền và có giá rẻ, gần gũi với người dân, kẻ bán, người mua vui vẻ đã tạo cảm giác thân thiện, tin tưởng dễ chịu cho người tiêu dùng và du khách.

1.2. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CHỢ TRUYỀN THỐNG

Phát triển chợ truyền thống là quá trình duy trì, mở rộng và hoàn thiện các hoạt động thương mại mang tính truyền thống trên cơ sở quy hoạch phát triển và đáp đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa- dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư. Quá trình này có các nội dung sau:

1.2.1. Phát triển về quy mô chợ truyền thống

Phát triển về quy mô chợ truyền thống có thể hiểu là quá trình duy trì và mở rộng thêm quy mô hoạt động của chợ truyền thống, là quá trình nâng cấp, hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng của chợ truyền thống bảo đảm yêu cầu thực hiện tốt hơn chức năng hoạt động thương mại của chợ truyền thống trong đáp đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa- dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư.

Phát triển về quy mô chợ truyền thống thể hiện qua việc xây dựng lại, cải tạo và hoàn thiện hạ tầng cơ sở cho hệ thống chợ truyền thống cũ. Hạ tầng cơ sở gồm nhà trung tâm với các khu chức năng, hệ thống cấp thoát nước, kho chứa hàng, đường giao thông nội bộ, cung cấp điện, hệ thống phòng cháy chữa cháy, nhà xe,… Hệ thống chợ này sẽ được bổ sung thêm các chợ đầu mối làm chức năng cung cấp đầu vào – bán buôn cho các chợ bán lẻ. Quá trình này diễn ra không chỉ ở những trung tâm thành thị, vùng đồng bằng mà cả các chợ ở vùng nông thôn. Phát triển về quy mô không chỉ đơn thuần tập trung vào hạ tầng cơ sở.

Phát triển về quy mô sẽ là quá trình tiếp tục duy trì và khai thát hiệu quả các chợ truyền thống hiện có, thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới chợ trên địa bàn hài hoà với các loại hình thương mại khác, quy hoạch một cách hợp lý, có trọng điểm, phù hợp với qui hoạch  kinh tế – xã hội của địa phương và của các ngành, lĩnh vực khác, thích ứng với yêu cầu phát triển một khu vực thị trường đô thị,  một trung tâm kinh tế Miền Trung, đồng thời phù hợp với tâm lý và tập quán tiêu dùng của dân cư. Nâng cấp và mở rộng các chợ bán buôn, bán lẻ quy mô lớn (hạng I),  cải thiện cơ sở hạ tầng chợ dân sinh, phát triển theo hướng chợ chuyên doanh thực phẩm tươi sống. Tại khu vực nông thôn (đồng bằng, miền núi): phát triển các chợ dân sinh quy mô nhỏ (hạng III). Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất chợ hiện có đảm bảo tốt các điều kiện về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường

Yêu cầu phát triển quy mô chợ truyền thống phải bảo đảm tuân thủ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương hay quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại của địa phương, đặc điểm của địa phương và các quy định khác của pháp luật liên quan tới hoạt động thương mại.

Phát triển về quy mô chợ được thực hiện qua việc huy động các nguồn lực cho chợ truyền thống như vốn, lao động, công nghệ và trình độ quản lý. Cụ thể:

Huy động vốn cho phát triển chợ truyền thống. Đây là yếu tố quyết định cho sự phát triển nhất là bối cảnh cạnh tranh của các siêu thị, và các hình thức kinh doanh thương mại khác. Vốn chủ yếu để thực hiện cải tạo, nâng cấp hay xây mới cơ sở hạ tầng cho chợ. Nguồn vốn có thể từ nhiều nguồn nhưng chủ yếu xã hội hóa trừ chợ nông thôn nhà nước sẽ phải đầu tư.

Lao động cho chợ truyền thống. Về số lượng không quan trọng bằng chất lượng lao động trong các chợ. Tiểu thương và người tham gia kinh doanh phần lớn theo kinh nghiệm là chính, họ thiếu rất nhiều kỹ năng cần thiết như giao tiếp, marketing, quản trị….cũng như chiến lược kinh doanh cụ thể.

Công nghệ – tổ chức hoạt động thương mại khoa học. Bảo đảm cho hoạt động hệ thống cung cấp hành hóa dịch vụ hoạt động theo những tiêu chuẩn nhất định trên nền những quy tắc và thói quen truyền thống mua bán tốt cần duy trì. Để chợ truyền thống không chỉ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mà còn bảo đảm công ăn việc làm và đầu ra cho sản xuất.

Các tiêu chí phản ánh

– Diện tích chợ được cải tạo, nâng cấp và xây mới;

– Tỷ lệ các chợ đạt tiêu chuẩn quy định về mọi mặt

– Phân bố chợ trên đơn vị hành chính hay 10000 dân;

– Tỷ lệ các chợ đầu mối/ chợ bán lẻ

– Số lao động tăng thêm

1.2.2. Gia tăng, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ

Phát triển chợ truyền thống còn bao hàm cả việc không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ của chợ. Mở rộng dịch vụ là quá trình các chủ thể của chợ tăng thêm số lượng hay kéo dài danh mục các dịch vụ bằng cải tiến, nâng cấp các dịch vụ cũ để hình thành dịch vụ mới, đưa ra dịch vụ mới,…ví dụ bán hàng thực phẩm kèm theo dịch vụ chuyên chở về cho khách…Nâng cao chất lượng dịch vụ là cải thiện, hoàn thiện hay nâng cao các tiện ích hay mức độ thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng. Ví dụ người bán hàng thực phẩm sử dụng bao bì và có ghi rõ hơn nguồn gốc xuất sứ của hàng hóa cùng với các chỉ dẫn sử dụng…

Ngành hàng mặt hàng tại các chợ đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều chủng loại hàng hóa đảm bảo chất lượng, nhãn hiệu, xuất xứ rõ ràng phân bố sắp xếp bố trí nơi kinh doanh có khoa học phù hợp với từng ngành hàng, mặt hàng, giá bán phù hợp với mức quy định chung, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Nâng cao chất lượng dich vụ tại chợ, như dịch vụ ăn uống, bốc xếp hàng hóa, dịch vụ giao hàng tận nhà, chăm sóc khách hàng, trông giữ hàng hóa, phương tiện vận chuyển, cho thuê kho bãi bảo quản hàng hóa, cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ vốn kinh doanh, các hoạt động dịch vụ vui chơi giải trí,…

Nâng cao kỹ năng bán hàng đối với các hộ kinh doanh.

Các tiêu chí phản ánh

– Số lượng và chủng loại hàng hóa- dịch vụ:

-Tỷ trọng các dịch vụ cao cấp

– Tỷ lệ khách hàng hài lòng với dịch vụ của chợ truyền thống

1.2.3. Thực hiện hoạt động liên kết của chợ truyền thống

Chợ truyền thống chỉ là một loại hình thương mại cung cấp hàng hóa dịch vụ trên thị trường. Sự phát triển của nó không thể tách rời riêng biệt, bản thân loại hình này cũng có sự liên kết trong nội bộ và với các loại hình khác.

Liên kết hoạt động của chợ truyền thống là hoạt động của các chủ thể trong hệ thống đó phối hợp cũng thực hiện một hay nhiều chức năng hay những chức năng kế tiếp và bổ sung cho nhau trong cùng một chuỗi giá trị hàng hóa dịch vụ.

Liên kết hoạt động của chợ truyền thống có thể có hai hình thức (i) liên kết ngang; (ii) liên kết dọc. Liên kết ngang là liên kết của các chủ thể để thực hiện trong việc cung cấp cùng một hay một số dịch vụ cùng loại nhằm tạo ra mạnh lưới rộng. Ví dụ như liên kết của những chủ thể cung cấp hàng rau quả ở các chợ với nay. Liên kết dọc là liên kết giữa các chủ thể nhằm thực hiện từng công đoạn trong cung cấp dịch vụ ví dụ chợ bán sỉ và bán lẻ. Hai loại liên kết này vừa diễn ra trong nội bộ hệ thống chợ truyền thống lại vừa diễn ra với các loại hình khác.

Ngoài ra, liên kết hoạt động của chợ truyền thống có thể diễn ra giữa các chủ thể của chợ truyền thống với các nhà cung cấp các dịch vụ bổ sung cho hoạt động của họ ví dụ vận tải, kho bãi, tài chính, bảo hiểm…

Như vậy để bảo đảm tồn tại và phát triển của chợ truyền thống cho dù loại hình này phải cạnh tranh quyết liệt với các loại hình khác như siêu thị chẳng hạn thì liên kết vẫn là tất yếu.

Liên kết hoạt động của chợ truyền thống chỉ có thể thực hiện với điều kiện (i) các chủ thể nhận được lợi ích từ tham gia; (ii) họ phải tự nguyện tham gia; (iii) Có được hệ thống các quy định hay thể chế chính thức và phi chính thức hiệu quả.

Các tiêu chí:

– Các chuỗi liên kết cung cấp hàng hóa dịch vụ;

– Tỷ lệ số các hộ kinh doanh tham gia chuỗi cung ứng một hay một số loại sản phẩm;

– Tỷ lệ các hộ kinh doanh sử dụng các dịch vụ bổ sung cho mình..

Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Giải pháp phát triển chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

1.2.4. Tổ chức quản lý hoạt động chợ

Thành lập tổ quản lý, Ban quản lý chợ thành đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải các chi phí hoạt động, thực hiện chức năng quản lý hoạt động tại chợ và tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ trong phạm vị được giao.

Quản lý điều hành các hoạt động kinh doanh của chợ theo Nội quy chợ do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định của pháp luật.

Phối hợp với Ủy ban nhân dân các phường, xã trong việc quản lý sắp xếp hộ kinh doanh trong phạm vi chợ phù hợp với yêu cầu về văn minh thương mại, theo quy hoạch được Ủy ban nhân dân quận, huyện phê duyệt.

Phổ biến hướng dẫn kiểm tra đôn đốc những đối tượng mua bán tại chợ thực hiện đúng, đầy đủ theo nội quy chợ và Nhà nước về hoạt động chợ.

Bảo quản duy tu thường xuyên các cơ sở vật chất của chợ, đề xuất Ủy ban nhân dân xét duyệt và tổ chức thực hiện các công trình sửa chữa lớn để đảm bảo hoạt động chợ được an toàn, văn minh, hiệu quả.

Việc đầu tư nâng cấp, sửa chữa chợ, công tác bố trí cán bộ quản lý, quy định chế độ thu chi của chợ đều phải theo chỉ tiêu giao của cơ quan chủ quản.

Thực hiện giao thầu quản lý khai thác chợ cho các doanh nghiệp, Hợp tác xã kinh doanh, quản lý và khai thác theo các quy định của pháp luật về chợ như: Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/1/2003 của chính phủ về phát triển và quản lý chợ, Thông tư 67/2003/TT-BTC ngày 1/7/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng cho Ban quản lý chợ, doanh nghiệp khai thác và quản lý chợ.

Các tiêu chí phản ánh

– Tỷ lệ hộ hài lòng với hoạt động của ban quản lý

– Tỷ lệ ban quản lý hoàn thành tốt nhiệm vụ;

1.2.5. Tăng kết quả và hiệu quả của chợ truyền thống

Chợ truyền thống bản thân nó là hoạt động kinh tế đảm nhiệm một khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự phát triển của nó có không chỉ thể hiện ở kết quả và hiệu quả của bản thân nó mà còn cả nền kinh tế.

Tăng kết quả hoạt động của chợ truyền thống thể hiện sự gia tăng kết quả hoạt động của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này và được phản ánh bằng doanh thu bán hàng hóa dịch vụ của họ theo thời gian. Chỉ tiêu này là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện rõ năng lực kinh doanh của chợ truyền thống. Trên khía cạnh quá trình tái sản xuất thì tăng kết quả này còn hàm ý tăng nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ cho doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất.

Hiệu quả hoạt động của chợ truyền thống phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong hoạt động của nó. Tuy nhiên có thể chỉ tiêu này được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như giảm chi phí lưu thông của hàng hóa, giảm chi phí / 1 đồng doanh thu…Trên góc độ nền kinh tế thì tăng hiệu quả hoạt động của chợ còn thể hiện ở mức giảm chi phí xã hội để tiêu dùng dịch vụ hay số việc làm được tạo ra nhờ phát triển chợ.

Các tiêu chí

  • Mức và tỷ lệ tăng doanh thu của chợ truyền thống
  • Mức và tỷ lệ tăng doanh thu bình quân /hộ chợ truyền thống
  • Lợi nhuận /hộ của chợ truyền thống
  • Số việc làm tăng thêm nhờ hoạt động của chợ..

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH CHỢ

1.3.1. Sự phát triển của sản xuất và nhu cầu tiêu dùng xã hội

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng cao, cùng với sự phát triển của trình độ khoa học công nghệ, năng suất lao động ngày càng được nâng lên, sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều và chất lượng đảm bảo, khi đó nhu cầu giao lưu trao đổi mua bán xảy ra kèm theo đó là sự phát triển chuyên môn hóa về sản xuất, mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất chỉ sản xuất ra một loại hàng hóa hiệu quả, mà tiêu dùng của con người ngày càng tăng do đó nhu cầu trao đổi càng tăng lên. Và khi đó, nơi nào là trung tâm, đảm bảo các điều kiện thuận tiện (là trung tâm người mua, trung tâm của người bán, thuận tiện trong việc đi lại vận chuyển…) nó sẽ trở thành địa điểm trao đổi mua bán và được hình thành tồn tại với sự chấp nhận của người bán cũng như người mua.

Qua nghiên cứu cho thấy người tiêu dùng hiện nay có xu hướng cắt giảm việc mua sắm ở các kênh hiện đại (Siêu thị, đại siệu thị, cửa hàng tiện lợi…) trong việc tiêu dùng hằng ngày và chuyển sang chợ là kênh bán hàng có giá thấp hơn, dễ dàng trong việc trao đổi mua bán, trong đó chợ truyền thống là một kênh mua sắm được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn, thực tế hiện nay do tập quán tiêu dùng của người dân Việt Nam, chỗ nào thuận bán thuận mua là có thể hình thành nên chợ. Vì vậy, công tác quy hoạch phát triển chợ phải được nghiên cứu hợp lý đảm bảo thuận lợi cho người bán cũng như người mua nhằm tránh trường hợp chợ tự phát không đảm bảo các điều kiện về vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và cảnh quan đô thị.

1.3.2. Hệ thống chính sách pháp luật về chợ và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội

Chợ được hợp pháp hóa khi có đủ điều kiện mà pháp luật đề ra. Tuy nhiên đối với các chợ truyền thống đã tồn tại từ lâu đời thì hầu như đã được pháp luật đương thời, cũng như trong quá khứ chợ đã đủ điều kiện tồn tại và phát triển. Khi có một chợ nào đó xuất hiện làm đảo lộn trật tự địa phương, an ninh xã hội làm ảnh hưởng tới các công trình phúc lợi, cũng như ảnh hưởng tới mỹ quan đô thị, ảnh hưởng tới việc quy hoạch tổng thể của các địa phương, quận huyện, thành phố và không phù hợp với mục tiêu đường lối của các chính sách kinh tế xã hội đối với từng vùng từng địa phương, không đúng pháp luật thì sẽ bị loại bỏ. Còn những chợ phù hợp và thỏa mãn những điều kiện bức thiết mà dân cư mong muốn sẽ được nhà nước và địa phương đầu tư xây dựng chỉnh trang cải tạo, phát triển.

1.3.3. Sự xuất hiện và phát triển của các trung tâm thương mại lớn

Mặc dù với xu hướng chung là người tiêu dùng luôn ưu tiên mua sắm hàng hóa tại các chợ truyền thống vì chợ truyền thống có nhiều mặt thuận lợi hơn trong việc mua sắm hàng hóa đặc biệt là các hàng hóa tiêu dùng hằng ngày. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của kinh tế thị trường trong nước, hơn một thập niên trở lại đây, các thành phố lớn rầm rộ với sự tăng lên một cách mạnh mẽ về số lượng các trung tâm thương mại (đặc biệt là siêu thị, sau đó là các hội chợ thương mại, cửa hàng bán lẻ, các doanh nghiệp, công ty thương mại…). Siêu thị là một trong những loại hình thương mại mới, nó đang được người dân thành thị tiếp nhận một cách nhanh chóng và số lượng ngày càng tăng, càng ngày siêu thị càng phát triển về số lượng cũng như quy mô, chất lượng các loại mặt hàng, dịch vụ phục vụ… Ta có thể thấy được những nét đặc trưng cơ bản của siêu thị là:

– Siêu thị là một cửa hàng bán lẻ:

Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ, bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bán lại. Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, được quy hoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng quy mô, có trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt động.

– Siêu thị áp dụng phương thức tự phục vụ:

Đây là phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loại cửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh… giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ có sự phân biệt.

Tự chọn: Khách hàng sau khi chọn mua được hàng hóa sẽ đến chỗ người bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của người bán.

Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc xe đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào. Người bán vắng bóng trong quá trình mua hàng.

– Siêu thị thường chú trọng ở nghệ thuật trưng bày hàng hóa:

Qua nghiên cứu cách thức vận động của người mua hàng khi vào cửa hàng, người điều hành siêu thị có cách bố trí hàng hóa thích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hoá hiệu quả của không gian bán hàng. Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng “tự quảng cáo”, lôi cuốn người mua. Siêu thị làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật. Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng khuyến mãi phải thu hút khách hàng bằng những kiểu trưng bày đập vào mắt; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn để tạo cho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó được bán rất chạy…

– Siêu thị áp dụng các hình thức quản lý, bán hàng và thanh toán bằng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ (tin học, điện tử, khoa học xã hội trong bán hàng…) hơn hẳn các chợ hiện đang tồn tại.

Tuy nhiên, tại sao các chợ truyền thống vẫn tồn tại, phát triển và có một thị phần lớn ở nước ta hiện nay. Để hiểu thêm về vấn đề này, ta có thể xem xét một số nét của siêu thị và chợ truyền thống:

Đối với siêu thị:

– Điểm mạnh: Hàng hóa trong siêu thị thường là các hàng hóa có rõ nguồn gốc xuất xứ, giá cả được niêm yết rõ ràng, hợp lý (giá cả trong siêu thị thường chỉ đăt hơn 2% so với giá bán ở các đại lý bán lẻ), măt bằng xây dựng có thể tuy theo diện tích có, không gian chiếm ít phù hợp với tình trạng thiếu thốn đất như ở các thành phố lớn. Hơn nữa, vệ sinh môi trường ở các siêu thị rất tốt, khách hàng thoải mái lựa chọn hàng hóa mà không bị bắt phải mua như ở một số chợ, sự bố trí hàng hóa mang tính khoa học dễ tìm kiếm và lựa chọn măt hàng mà khách hàng muốn…

– Điểm yếu: Chi phí cho đầu tư xây dựng ban đầu là lớn và rất tốn kém, các khách hàng đến siêu thị mua hàng thường là các khách hàng có thu nhập cao trong khi đó ở nước đa số người dân có mức thu nhập trung bình và thấp. Vì thế,sự phát triển của siêu thị thường là các đô thị lớn của thành phố. Trong khi đó phần lớn người dân của nước ta lại chưa có thói quen mua sắm tại các siêu thị và nó chưa phù hợp với tâm lý người tiêu dùng có mức thu nhập trung bình và thấp.

Đối với chợ:

– Điểm mạnh: Số lượng hàng hóa đa dạng nhiều chủng loại, giá cả, phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng mà đa số là người dân lao động với mức thu nhập trung bình và thấp, nhóm khách hàng bình dân phù hợp với mức thu nhập và tiêu dùng của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay. Đặc trưng của mô hình này là nhóm các nhu yếu phẩm thiết yếu hằng ngày. Thậm chí, đó còn là nơi người dân ra ngồi để bán những thứ “của nhà trồng được”. Hơn nữa cung cách buôn bán của tiểu thương, tâm lý mua sắm của người dân khác rất nhiều so với trung tâm thương mại nó là một loại hình truyền thống ăn sâu vào tiềm thức của người dân, sự giao lưu mua bán thuận tiện…

– Điểm yếu: Hạ tầng cơ sở không đảm bảo, phàn lớn các chợ đã đầu tư từ nhiều năm trước không được duy tu bão dưỡng, nâng cấp nên xuống cấp, không đảm bảo các điều kiện cho hoạt động kinh doanh gây ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường, hàng hóa ở chợ nhiều sản phẩm hàng hóa tự sản, tự tiêu của người dân nên chưa đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, an ninh lộn xộn, tranh cãi lấn chiếm, hoat động kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, … hàng hóa thì không rõ nguồn gốc xuất xứ, giá cả bất thường không chính xác.

Việc trưng bày hàng hóa bày bán trong chợ thường lộn xộn không phân định rõ ràng về địa điểm bày bán các loại hàng hóa khác nhau.

Để chợ truyền thống luôn là kênh tiêu dùng ưa tiên lựa chọn của người tiêu dùng đòi hỏi các thương nhân kinh doanh tại các chợ truyền thống phải không ngừng nâng cao chất lượng, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, chủng loại hàng hóa đa dạng, giá cả hợp lý nhất và đặc biệt là việc phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đối với các cơ quan quản lý phải thường xuyên cải tạo nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở tại chợ để đảm bảo thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán.

1.4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHỢ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM

Trong bối cảnh chợ phải đối đầu cạnh tranh gay gắt với các kênh bán lẻ khác như siêu thị, cửa hàng và các đội quân bán hàng di động, nếu không theo kịp nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng, mô hình chợ sẽ bị thu hẹp dần. Để vực dậy hoạt động chợ, chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ là biện pháp khả thi mà một số nơi đang tiến hành.

1.4.1. Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở thành phố Hồ Chí Minh: tư nhân quản lý chợ

Mặc dù chợ là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho đời sống hàng ngày của người người dân, nhưng nhắc đến chợ nhiều người tỏ ra rất ngán ngẩm, đó là do chuyện mất vệ sinh môi trường, lối đi thì nhỏ hẹp và lầy lội, thêm nữa là vấn nạn tiểu thương nói thách, cân thiếu và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Tình trạng chợ dơ bẩn, nhếch nhác có thể nói là rất nhiều, nhất là các loại chợ tạm, chợ cóc. Do vậy, người dân thường chọn cách đi siêu thị, dù giá có nhỉnh hơn chút ít nhưng mua sắm thoải mái và sạch sẽ.

Nhiều chợ không có bãi giữ xe hoặc họp chợ gần ngay lòng lề đường, gây kẹt xe, mất trật tự trên địa bàn. Ngoài ra Ban quản lý chợ năng lực còn hạn chế nên không tổ chức quản lý tốt và không đảm bảo được tính văn minh thương mại trong chợ.

Trong bối cảnh đó thì tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 10 năm nay, có tới gần 50 siêu thị, chưa kể các siêu thị thực phẩm nhỏ – minimart đã ra đời, thu hút dần lượng khách của các chợ. Trước đây, siêu thị được đánh giá là nơi mua sắm dành cho những người có thu nhập cao, nhưng hiện tại theo thăm dò và thống kê tại các siêu thị, đa phần khách hàng thường xuyên của siêu thị là những người có thu nhập trung bình và khá.

Trước tình hình cạnh tranh găy gắt giữa các kênh bán lẻ truyền thống và hiện đại, tiểu thương nhiều chợ đã lâm vào cảnh ế ẩm. Ở một số Quận, với những chợ do Nhà nước quản lý, ngay cả chợ mới tôn tạo, phía Nhà nước cũng phải luôn bù lỗ huồng gì nói tới việc thu nộp ngân sách.

Để thúc đẩy hoạt động chợ phát triển, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng trong dân thì việc nâng cấp, thay đổi cách quản lý chợ là rất cần thiết. Chính vì vậy, Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng và khai thác chợ. Trước mặt tư nhân mới chỉ đấu thầu kinh doanh chợ (do Nhà nước xây dựng, làm chủ đầu tư), chứ chưa bỏ tiền để xây dựng toàn bộ chợ.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1992, Sở Thương Mại thành phố đã thí điểm cho tư nhân đấu thầu kinh doanh chợ, nhưng ban đầu mới chỉ đấu thầu từng phần (bãi giữ xe, thu lệ phí…) cho tới cuối năm 2004 thì đã có 18 chợ được đấu thầu toàn phần.

Trước khi cho tư nhân quản lý, tổng doanh thu tại các chợ thuộc một số quận chỉ đủ bù đắp cho chi phí quản lý chợ, còn chi phí đầu tư sửa chữa đều do Ngân sách Nhà nước bỏ ra. Nhưng sau khi tổ chức đấu thầu, tổng số thu nộp ngân sách tăng lên, thậm chí tăng lên 10 lần so với trước.

Chợ Tân Phú (thuộc quận Tân Bình) là chợ loại 2 (quy mô 310 sạp), được tổ chức đấu thầu vào cuối năm 2001. Người trúng thầu là một cá nhân. Trước khi đấu thầu, chợ này nộp ngân sách chỉ khoảng 4,5 triệu đồng/tháng, nhưng hiện nay đã tăng lên gần 30 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, các chi phí sửa chữa, tân trang chợ, thuê nhân viên đều do chợ tự lo, không phải ngân sách cấp.

Còn đối với chọ Tân Hương (quận Tân Bình) đơn vị trúng thầu là Hợp tác xã Tân Tiến. Khi chợ còn thuộc sự quản lý của phường, việc thu chi cũng không cân đối đủ, huống gì chuyện sửa chữa chợ, dẫn đến tình trạng chợ xuống cấp, tiểu thương và dân cư kêu ca. Đến nay, ngoài việc nộp ngân sách Nhà nước mỗi năm chợ bỏ ra từ 50-60 triệu đồng để duy tu, sửa chữa quầy sạp.

Tư nhân trực tiếp đứng ra quản lý được chủ động hoàn toàn vấn đề tài chính nhưng vẫn theo chủ trương của Nhà nước, được Nhà nước theo dõi và hỗ trợ nên hiệu quả sẽ cao hơn quản lý theo kiểu bao cấp. Một khi tư nhân tự bỏ vốn và đứng ra quản lý thì họ sẽ tìm ra phương án kinh doanh tốt nhất để thu được lợi nhuận cho mình, nếu không họ sẽ bị phá sản.

Ngoài vấn đề tài chính, vấn đề vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự… cũng được quản lý sâu sát hơn. Theo Sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, trước kia (khi chưa tư nhân hoá) các vấn đề trên do phường, quận thực hiện, phải có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan chức năng khác nhau và phải chi cho ngân sách địa phương nên chỉ được thực hiện một cách lỏng lẻo. Tại các chợ đã giao thầu, vấn đề trên được cải thiện hơn so với chợ do Nhà nước trực tiếp trực tiếp quản lý. Ngoài ra các quầy sạp cũng được bố trí ngăn nắp, gọn gàng hơn nên số tiểu thương tăng đáng kể.

Sau thời gian thí điểm đạt hiệu quả, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quy chế đấu thầu chợ (có hiệu lực từ ngày 30/09/2004). Trên cơ sở đó, Sở Thương mại sẽ tiếp tục tổ chức đấu thầu nhiều chợ tiếp theo trong thời gian tới.

Việc cho tư nhân đầu thấu chợ là cơ chế quản lý tiến bộ, tăng ngân sách Nhà nước, giảm chi phí quản lý và nâng cao trách nhiệm, hiệu quả quản lý chợ. Tuy nhiên, từ nay, các cá nhân không còn được tham gia đấu thầu mà phải là các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước, Hợp tác xã…, trừ những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Một tổ chức hay doanh nghiệp sẽ có kinh nghiệm quản lý tốt hơn cá nhân, hơn nữa, để trúng thầu còn phải có tiềm lực tài chính mạnh và uy tín trong kinh doanh. Sở Thương mại sẽ chọn lọc những đối tượng dự thầu đầy đủ năng lực quản lý và tổ chức đấu thầu minh bạch, công khai.

Khi tư nhân kinh doanh chợ, trước hết họ phải tìm cách thu hút các tiểu thương (bằng chính sách, cơ sở vật chất và an ninh tốt). Nếu hoạt động của chợ văn minh lịch sự thì người tiêu dùng chắc chắn sẽ gắn bó với chợ, vì chợ vốn là nét văn hoá độc đáo của dân tộc.

1.4.2. Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở một số tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long: Hợp tác xã quản lý chợ

Theo Thống kê thì Thành phố Cần Thơ có 88 chợ, khoảng trên 50% là chợ loại 3. Nhiều chợ xã, phường, thị trấn tương đối kiên cố nhưng không ít nơi còn nhếch nhác do thiếu quan tâm tổ chức, quản lý, sắp xếp ngành. Nguồn phí chợ thu được ít địa phương trích lại một phần cho tái đầu tư phát triển chợ. Bên cạnh đó, các Ban quản lý chợ còn yếu kém, ít kinh nghiệm, chu yếu lo tập trung vào thu lệ phí… chứ không mấy bận tâm đến công tác thăm dò thị trường, định kế hoạch phát triển khai thác chợ sao cho người bán thì mong muốn có một chỗ trong chợ để buôn bán thuận lợi, còn người mua thì khi có nhu cầu cũng nghĩ ngay đến chợ “sạch sẽ ngăn nắp, giá cả phải chăng, cân đo trung thực”. Đây là hiện trạng khá phổ biến ở Thành phố Cần Thơ. Do đó để thúc đẩy hoạt động chợ phát triển, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng của dân cư, việc thay đổi hình thức tổ chức quản lý đã được tiến hành. Uỷ ban nhân dân Thành phố Cân Thơ đã giao 17 chợ cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, khai thác kinh doanh. Mặc dù đến nay mới chỉ có một số chợ do Công ty Thương mại Tổng hợp Thành phố Cần Thơ khai thác được, số còn lại bị vướng mắc ở khâu giải phóng mặt bằng nhưng các chợ khai thác được đều kinh doanh rất tốt, nộp ngân sách tăng nhanh.

Đến nay, Liên minh Hợp tác xã Thành phố Cần Thơ đã phối hợp với Sở Thương mại khảo sát mạng lưới chợ, chủ yếu là các chợ loại 3 trên toàn thành phố, tiến hành các bước vận động tổ chức thí điểm Hợp tác quản lý chợ ở một số chợ thuộc quận Ninh Kiều.

Bên cạnh đó ở huyện Gò Công Tây (tỉnh Tiền Giang) có Hợp tác xã Bình Tây từ một Hợp tác xã Nông nghiệp chuyển sang “đa ngành nghề” đã thực hiện mô hình khai thác chợ khá hiệu quả, đem lại việc làm thu nhập ổn định cho các xã viên, hàng hoá đổ về chợ ngày càng phong phú. Hợp tác xã Bình Tây không chỉ quan tâm tạo ra một cái chợ sầm uất mà còn làm đầu mối giao thương với các vùng lân cận. Hàng năm ngoài việc nộp ngân sách Nhà nước, Hợp tác xã còn đầu tư 30-40 triệu đồng cho việc nâng cấp, sửa chữa, duy tu các quầy sạp trong chợ.

Hợp tác xã chợ – nếu được tổ chức thực hiện tốt sẽ là bước cải tiến mang tính đột phá về công tác quản lý, hiệu quả đầu tư, thu hút mạnh vốn trong dân, đẩy mạnh giao thương, kích cầu tiêu dùng và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN (Ngo Anh Tuan)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *