Biện pháp quản lý hoạt động GDSKSS VTN cho học sinh THCS quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng
1. Lý do chọn đề tài
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, V.I. Lênin: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách”.
Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”.
Trong xu thế đổi mới con người Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Vấn đề con người là một trong những vấn đề luôn được xã hội coi trọng và quan tâm ở mọi thời đại. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước ta, việc coi trọng chất lượng cuộc sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, động lực của chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Xã hội phát triển kéo theo các mặt khác của xã hội cúng phát triển, đặc biệt là nền văn hóa, nhất là đang trong quá trình hội nhập. Nền văn hóa tác động nhiều mặt tới sự phát triển của con người nói chung và học sinh nói riêng. Bên cạnh những mặt tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực, vấn đề đang được xã hội quan tâm đó là sự du nhập của văn hóa phương Tây đã có ảnh hưởng tới học sinh THCS – Lứa tuổi đang có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất cũng như giới tính. Vì vậy vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên (GDSKSS VTN) cho học sinh đang được nghành giáo dục quan tâm.
Ở nước ta trẻ VTN (dưới 19 tuổi) chiếm khoảng 24,8% triệu người, tức là khoảng 27% dân số. Tuy nhiên thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây lan qua đường tình dục, nhiễm HIV, ma túy, cờ bạc, rượu chè. Theo thống kê của hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN. Chính vì vậy, các em cần được quan tâm
và giáo dục SKSS ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để tạo nền tảng vững chắc về mọi mặt để các em có đủ hành trang bước vào cuộc sống tương lai.
Trong những năm qua các trường THCS trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã có nhiều sự quan tâm và cố gắng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động GDSKSS VTN, song nhìn từ góc độ quản lý nhà trường, công tác này còn nhiều hạn chế, bất cập. Do đó, việc đánh giá đúng qua trình triển khai thực hiện hoạt động GDSKSS VTN để đề ra các biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GDSKSS VTN trong các trường THCS là một vấn đề cấp thiết. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý hoạt động GDSKSS VTN cho học sinh THCS quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động GD SKSSVTN ở trường THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh trường THCS.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh THCS trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tuy đã được quan tâm, song vẫn chưa được tiến hành một cách thường xuyên và chưa đạt được hiệu quả mong muốn, nhận thức của một bộ phận CBQL, GV và HS về vấn đề này còn hạn chế. Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng một cách khoa học thì chất lượng GD SKSSVTN cho học sinh sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh trường THCS.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
5.3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tôi sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp tài liệu, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp quan sát
– Phương pháp điều tra
– Phương pháp chuyên gia
6.3. Phương pháp thống kê Toán học:
Sử dụng các công cụ toán học để thống kê số và xử lý các số liệu thống kê nhằm đưa ra các kết luận, phục vụ công tác nghiên cứu.
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh ở 09 trường THCS trên đại bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng với 400 học sinh và 48 cán bộ quản lí và giáo viên.
8. Đóng góp của luận văn
9. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh trường THCS
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động GD SKSSVTN cho học sinh các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
- KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Với vai trò là một thành tố của giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức phi chính phủ quan tâm với mục đích đảm bảo sự cân bằng bền vững, công bằng cho nguồn lực con người với các nguồn lực khác, đảm bảo cho thế hệ tương lai có đủ năng lực, trí lực, sức lực để duy trì, phát triển nòi giống.
Trên cơ sở đó, Hội đồng Dân số thế giới (The Population Council) được thành lập năm 1952 đã quan tâm đến việc nghiên cứu các vấn đề khoa học sinh sản, phổ biến các biện pháp tránh thai mới, phổ biến các dịch vụ SKSS và KHHGĐ, giúp chính phủ của các nước thực hiện có hiệu quả chính sách dân số.
Năm 1954, Hội nghị Quốc tế về dân số tổ chức ở Rô- ma (Italia) với nội dung tổng hợp thông tin về nhân khẩu học. Năm 1986, “Tuyên ngôn của Liên hiệp quốc về dân số” ra đời được 12 quốc gia đón nhận, và từ đây vấn đề dân số được nâng lên tầm tòan cầu. Năm 1969, Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) được thành lập đánh dấu sự quan tâm của cộng đồng Quốc tế về vấn đề dân số.
Hội nghị Quốc tế về “Dân số và phát triển” ở Cai-rô (Ai Cập) năm 1997 có 197 quốc gia tham gia ( trong đó có Việt Nam) đã đi đến những thỏa thuận quan trọng về dân số, về SKSS và nỗ lực xóa đói ở các nước đang phát triển. Từ đó đến nay, các quốc gia trên thế giới đã có sự thay đổi lớn về định hướng chương trình giáo dục ở các nhà trường hiện hành và tập trung vào các nội dung: dân số, giới tính, SKSS, hay thường gọi là GDDS.
Khi vấn đề GDDS được quan tâm, xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu phân tích, đánh giá tình hình dân số thế giới. Các nước đang phát triển có tốc độ gia tăng dân số cao gấp đôi so với các nước phát triển. Điều đó khiến các quốc gia đang phát triển gặp nhiều khó khăn trong việc hoạch định đường lối chiến lược. Và đó còn là mối lo chung của nhân loại, bởi hiện tại, xuất hiện nhiều vấn đề mang tầm quốc tế và xu hướng hội nhập, vấn đề nguồn tài nguyên, dịch bệnh…Những vấn đề đó đều liên quan mật thiết tới vấn đề dân số của quốc gia và toàn cầu.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng chính sách, chiến lược phát triển con người, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em. Điều này thể hiện rõ qua hệ thống văn bản mang tính pháp quy, sự đầu tư nguồn lực vào các vấn đề GDDS.
Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã có những văn bản pháp quy về dân số – kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGD). Quyết định số 216/CP ngày 26 tháng 12 năm 1961 của Hội đồng Bộ trưởng thể hiện sự quan tâm về vấn đề giảm sinh. Quyết định số 217/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18 tháng 12 năm 1961 hướng tới vấn đề sinh đẻ có kế hoạch. Như vậy, ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, Việt Nam đã gắn công tác giảm sinh với việc bảo về sức khỏe nhân dân nhằm giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em, từng
bước nâng dần chất lượng dân số.
Tiếp đến, vào những năm cuối thập kỷ 80 (thế kỷ XX), Quốc hội nước ta thông qua Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân vào ngày 30 tháng 06 năm 1989. Điều này đã tạo ra được hành lang pháp lý để thực hiện chính sách DS – KHHGĐ, thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em trên toàn lãnh thổ.
Bước vào thế kỷ XXI, Chiến lược quốc gia về sức khỏe sinh sản và vấn
đề sức khỏe sinh sản cho thanh nhiên ở nhà trường Việt Nam cụ thể hóa nội
dung Nghị quyết Trung ương 4 ( Khóa VII). Chiến lược xác định mục tiêu chung là: “Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vũng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và các đối tượng khó khăn” [8, tr.15 ]. Cùng với 7 mục tiêu cụ thể, văn bản này đề ra trách nhiệm của Bộ giáo dục về giới, về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho học sinh các cấp phổ thông, cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề và các loại hình giáo dục khác.”
Dự thảo Báo cáo công tác dân số giai đọan 2011-2020 ( Tổng cục dân số) xác định rõ 9 mục tiêu quan trọng. Trong đó, đáng quan tâm là mục tiêu
6,7, 8,9 về chất lượng và quản lý dân số. Để thực hiện các mục tiêu quan trọng đó, báo cáo nêu lên 5 giải pháp quan trọng: tăng cường chỉ đạo công tác dân số, hoàn thiện tổ chức bộ máy và chuyên môn hóa cán bộ, xã hội hóa và hoàn thiện chính sách, đầu tư nguồn lực có hiệu quả, hợp tác quốc tế. Cho đến nay, dự thảo báo cáo này là văn bản đầu tiên đề cập đến vấn đề dân số mang tầm chiến lược giai đoạn 2011-2020.
Ngoài ra còn có nhiều văn bản, công trình nghiên cứu tập trung vào vấn
đề này như:
– Chiến lược Dân số và chăm sóc SKSS – Ủy ban Quốc gia DS – KHHGĐ – Trường Đại học Y khoa Hà Nội, 1997.
– Tuyên truyền lồng ghép Kế hoạch hóa gia đình trong SKSS – Bộ Y tế, NXB Phụ nữ 2000.
– GDSKSS vị thành niên – Bộ GD&ĐT và UNFPA, 2001.
– Chiến lược Quốc gia về SKSS giai đoạn 2001-2010, Bộ Y tế, NXB
Quân đội, Hà Nội, 2001.
– Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS và chống bạo lực trong gia đình –
Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, Hà Nội, 2002.
– Chương trình hành động giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV/AIDS cho học sinh trung học giai đoạn 2007-2010, Bộ GD&ĐT, Hà Nội, 2007.
– Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, bài giảng của các cấp quản lý và những tổ chức, cá nhân trực tiếp làm công tác dân số về các vấn đề: bình đẳng giới, giáo dục dân số, giáo dục SKSS và SKSS vị thành niên.
– Uỷ ban quốc gia về dân số phối hợp với Đoàn TNCS HCM biên soạn “Sổ tay hướng dẫn tuyên truyền thảo luận nhóm về SKSS VTN dành cho tuyên truyền viên và cán bộ đoàn cơ sở”.
– “Hành trang tuổi hồng” Sở GD&ĐT TP. Đà Nẵng, ĐHSP Đà Nẵng và tổ chức Rutgers WPF.
– Một số luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý giáo dục của các tác giả Lê Như Đáp, Bùi Thị Kim Yến, Nguyễn Thị Thu Hà…quan tâm đến việc quản lý công tác GDDS, giáo dục SKSS cho học sinh và sinh viên. Các tác giả cũng đã đề xuất những biện pháp quản lý công tác giáo dục SKSS như: Thực hiện tốt kế hoạch hóa quản lý công tác giáo dục SKSS cho sinh viên, phối hợp quản lý chặt chẽ giữa quá trình giáo dục của nhà trường với gia đình, cộng đồng, xã hội và sự tự giáo dục của sinh viên…Tuy vậy, trong các công trình đó, các tác giả chủ yếu tiếp cận nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên đại học và trung học chuyên nghiệp.
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Quản lý, Quản lý giáo dục
a. Quản lý
Khái niệm “quản lý”là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình QL xã hội, QL giới vô sinh cũng như QL giới sinh vật. Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.
Ở góc độ kinh tế, QL là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt đẹp và rẻ nhất.
Dưới góc độ chính trị – xã hội và góc độ hành động “QL là hoạt động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người QL và phù hợp với quy luật khách quan.
Theo Henry-Fayol (1841-1925), đại diện tiêu biểu của thuyết quản lý hành chính, thì “quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”[18]
Theo F.W.Taylor (1856-1915) người đề xướng thuyết quản lý khoa học quan niệm: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[18] . Ông cũng cho rằng: “Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội”[18] .
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [18].
Khái quát hơn, các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức .[1].
Các khái niệm trên, tuy diễn đạt khác nhau nhưng có nội hàm là hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức bằng các tác động có mục đích của người quản lý đến những người bị quản lý nhằm phối hợp các nguồn lực để đạt tới mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và cơ hội của tổ chức, nhằm đảm bảo cho tổ chức vận hành tốt, đạt mục tiêu với chất lượng và hiệu quả tối ưu.
b. Quản lý giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm, “Khái niệm QLGD có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cấp độ: Cấp độ vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục và cấp vi mô là quản lý nhà trường.
– Đối với cấp vĩ mô, QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đang mong chờ ở ngành giáo dục. QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với chiến lược của ngành giáo dục, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho cả mọi tầng lớp trong xã hội, tuy nhiên trọng tâm vẫn là thế hệ trẻ, cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân.
– Đối với cấp vi mô, QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường, như vậy ở đây giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp. QLGD là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [17, tr37].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, QLGD hay QL trường học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên tắc GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm là hội tụ quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái mới về chất.
Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản như xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, về tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn về cơ sở vật chất thiết bị trường học, tổ chức bộ máy quản lý giáo dục, tổ chức chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng CBQL, GV; huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực phục vụ phát triển sự nghiệp giáo dục.
QLGD còn được hiểu là tập hợp những biện pháp đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống nhà trường, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng cả về số lượng lẫn chất lượng của hệ thống nhà trường.
Như vậy, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả cao nhất. [12].
Từ những quan niệm đã nêu, trên bình diện tổng quát, có thể hiểu QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra.
1.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
a. Sức khoẻ sinh sản- vị thành niên
– Vị thành niên
Theo quy ước của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): VTN là những người trong độ tuổi 10-19. Như vậy những người này ở sau tuổi thiếu nhi và trước tuổi trưởng thành. Tổ chức này cũng quy định thanh niên là những người trong độ tuổi 15 – 24, còn những người trẻ tuổi là những
người trong độ tuổi 10-24[28;tr.27] .
VTN là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn, được đánh dấu bằng những thay đổi đan xen lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội chuyển từ giản đơn sang phức tạp.[14;tr.48]
Khái niệm VTN được thừa nhận về mặt văn hóa xã hội là một giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành. Con người trong độ tuổi này thay đổi rất nhiều tuỳ theo các dân tộc và nhiều yếu tố khác nữa.
VTN trải qua những giai đoạn chuyển tiếp đầy tiềm năng nhưng lại rất mong manh. Họ cần được nuôi dưỡng, chăm và sống trong một môi trường thuận lợi để trở thành những người trưởng thành khỏe mạnh, có trách nhiệm, có khả năng sinh sản và lao động.
Thời kỳ VTN được đặc trưng bởi sự phát triển rất mạnh cả về trí tuệ và thời kỳ VTN cũng đánh dấu những bước phát triển lớn về mặt xã hội, hướng ra từ phạm vi gia đình vào tập thể cùng lứa tuổi, cùng nhóm và phát triển những kỹ năng mới. Tuổi VTN đôi khi phân định thành: VTN (10-14) trung bình (15-17) và muộn (18-19)[28;tr.7]
Độ tuổi 15-19 là giai đoạn thay đổi một cách toàn diện cả về tâm sinh lý và tình cảm của một cá nhân, sự xuất hiện tình yêu, tình dục ở VTN Việt Nam hiện nay chủ yếu rơi vào nhóm tuổi 15-19.
Ở Việt Nam, trong tình hình hiện nay, VTN được xếp thành 2 nhóm:
– Nhóm 10-14 tuổi [28;tr.7]
– Nhóm 15-19 tuổi [28;tr.7]
Sự thay đổi đặc trưng nhất của VTN nam và nữ ở tuổi dậy thì về
thể chất là sự xuất hiện hành kinh ở nữ và xuất tinh ở nam.
Lực lượng VTN của toàn cầu hiện nay chiếm hơn 1,2 tỷ người.
Đây là số lượng VTN lớn nhất so với các giai đoạn lịch sử trước đây và sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thế kỷ 21. Ở Việt Nam, VTN chiếm khoảng
23% dân số cả nước với số lượng khoảng 16 triệu người, trong đó có 13 triệu ở nông thôn và 3 triệu ở đô thị.
b. Sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển ở Cairô (Ai Cập) đã đưa ra khái niệm về SKSS:
SKSS là trình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế của hệ thống sinh sản. Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các vợ chồng cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh. [27;tr.3].
SKSS là một trạng thái hài hòa về thể lực, tinh thần, xã hội trong tất cả các vấn đề có liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản của con người với chức năng và quá trình hoạt động của nó. SKSS được hiểu là con người có nhu cầu và khả năng về một cuộc sống tình dục thoải mái, khỏe mạnh, an toàn [27;tr.3].
Trong cuộc sống, con người – đặc biệt là lứa tuổi VTN luôn phải đối mặt với những vấn đề có liên quan đến SKSS của bản thân. Họ cần phải biết cách giải quyết tích cực, có hiệu quả đối với những vấn đề đó để bảo vệ SKSS của bản thân và của những người khác[2;tr.65].
VTN có những năng lực, ý tưởng, nhiệt tình, khát vọng và tiềm năng vô tận. Họ là tài sản và nguồn lực quan trọng của đất nước. Họ là thế hệ kế cận trong tương lai.
SKSS VTN là những nội dung nói chung của SKSS nhưng được
ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi VTN.[15;tr.9]
c. Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Trong nhà trường, mục tiêu và nội dung cụ thể của chương trình GD SKSS VTN phải dựa trên cơ sở HS hiểu biết và có những quyết định đúng đắn đối với những vấn đề này.
GD SKSS cho VTN là quá trình trang bị cho các em những kiến thức về SKSS Những kiến thức về sự thay đổi về chất cũng như tinh thần, cảm xúc của tuổi dậy thì cho cả hai đối tượng nam và nữ. Những kiến thức về các biện pháp tránh thai. Những nguyên nhân và hậu quả khi mắc các BLNQĐTD; Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (BNKĐSS); cách phòng ngừa và cách xử trí nếu không may bị mắc. Thông qua nhận thức đúng đắn về các vấn đề trên giúp HS nhận thức đúng đắn và có thái độ đúng mực đối với những vấn đề liên quan đến SKSS. Từ đó, hình thành cho HS có được những hành vi đúng đắn về đạo đức, lối sống, giúp các em xử lý các vấn đề tình bạn, tình yêu, hôn nhân, chủ động có trách nhiệm trong quan hệ lành mạnh, an toàn với bạn khác giới.
Ở giai đoạn này, việc GD SKSS sẽ thuận lợi hơn cả và sẽ đạt hiệu quả cao nhất so với các giai đoạn khác của cuộc đời vì cơ thể đang phát triển, nhất là thời khi dậy thì (giai đoạn giữa của VTN) diễn ra sự phát triển hết sức mạnh mẽ và hoàn thiện thể chất.[28;tr.177].
GD là một quá trình tác động có định hướng, cho nên GD SKSS VTN sẽ có nghĩa quan trọng, quyết định sự phát triển đúng hướng, tránh được các sai lệch và hạn chế được những bất lợi ; tạo ra các tác động cùng chiều đối với sự phát triển của cơ thể và hình thành nhân cách tích cực cho thế hệ trẻ.
d. Quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh
Quản lý công tác GDSKSS VTN là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý với khách thể quản lý nhằm đẩy mạnh công tác GDSKSS đạt hiệu quả cao nhất theo mục tiêu mà tổ chức đã đề ra.
1.3. GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH THCS
Công tác GD SKSS VTN là một bộ phận quan trọng trong chiến lược về chăm sóc SKSS VTN và có mối quan hệ chặt chẽ với chiến lược tạo nguồn nhân lực của đất nước. Nói một cách khái quát, vấn đề này thuộc phạm trù chiến lược về con người. Vì vậy, công tác GD SKSS VTN có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.
Hiện nay, GD SKSS VTN đang có tầm quan trọng đặc biệt nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, chuẩn bị cho thế hệ trẻ thích ứng được với cường độ và yêu cầu làm việc cao trong các dây chuyền sản xuất công nghiệp hiện đại [28;tr.177-178].
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS
– Sự phát triển về thể chất
HS tại các trường THCS nằm trong độ tuổi (12-15). Tuổi VTN, trong đó có một giai đoạn gọi là tuổi dậy thì. Tuổi dậy thì là thời kỳ xảy ra những biến động mãnh liệt về tâm lý của mỗi con người, cũng là thời kỳ then chốt của phát triển tâm lý. Đương nhiên, quá trình phát triển tâm lý có quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá mà các em đang sống và cũng liên quan đến quá trình phát dục, thành thục về sinh lý. Bước vào năm đầu của tuổi này, số đông HS chuyển từ tiểu học lên trung học, các em phải đổi phó với những đổi thay to lớn trong môi trường học tập và rất nhiều những yêu cầu mới của xã hội. Con người đứng trước những thay đổi sinh lý hình thái rất đột ngột, như phát triển
chiều cao, sức mạnh cơ bắp, kinh nguyệt, dị tinh, vỡ giọng…, tất nhiên
điều đó sẽ dẫn đến hàng loạt biến động về tâm lý.
Ở các em gái tuổi dậy thì thường đến sớm hơn. Biểu hiện quan trọng của giai đoạn này là các em bắt đầu có kinh nguyệt, có nghĩa là đã có hiện tượng rụng trứng và nếu sinh hoạt tình dục với người khác giới không được bảo vệ sẽ có thai, sinh con. Ở các em trai tuổi dậy thì thường bắt đầu từ 13 đến 16 tuổi (muộn hơn nữ giới) nhưng hiện nay vẫn có những em dậy thì sớm hơn. Biểu hiện của dậy thì là hiện tượng xuất tinh và nếu sinh hoạt tình dục không được bảo vệ thì cũng có thể làm cho nữ giới mang thai, sinh con.[3;tr.29]
– Những biến đổi tâm sinh lý.
Cùng với những biến đổi của cơ thể ở tuổi dậy thì, đời sống tâm lý của các em cũng có những thay đổi sâu sắc. Các em dần dần tự chủ về tâm lý và tình cảm, tìm hiểu và có cảm xúc về giới tính, đồng thời suy nghĩ về vai trò tương lai của các em trong xã hội. Quá trình này diễn ra dần dần, đem đến nhiều cảm xúc đôi khi không ổn định. Một số em cảm thấy thất vọng, vỡ mộng và bị tổn thương, nhưng trong chốc lát lại có thể trở nên sôi nổi, lạc quan.
Ý thức tự trọng, tính độc lập trong suy nghĩ và hành động: Ở tuổi này, các em có xu hướng tách ra, ít phụ thuộc vào cha mẹ. Các em có tâm lý “muốn làm người lớn, coi mình là người lớn”; các em không còn đòi đi chơi cùng cha mẹ, muốn tự chọn bạn, ăn mặc theo ý thích. Các em muốn độc lập trong suy nghĩ và hành động nên nhiều khi chống đối lại cha mẹ, và chuyển từ sinh hoạt gia đình sang sinh hoạt bạn bè, ngưỡng mộ thần tượng [3;tr.39].
Trong lĩnh vực liên quan đến SKSS VTN, VTN là lứa tuổi dễ có nguy cơ phát triển tuy không lớn nhưng nghiêm trọng và đáng lo ngại.
Những biển đổi thể chất ở thời điểm này là một “giai đoạn khổ ải”. Cơ thể thay đổi, VTN phải chịu nhiều áp lực có tính xung năng- nhất là xung năng tình dục. Chính vì vậy nhiều trẻ VTN rơi vào tình trạng hoang mang, dao động, mất phương hướng, có thể có những rối nhiễu tâm lý: Hoài nghi, coi thường các giá trị. Trẻ muốn phá vỡ những ước muốn bỏ tuổi ấu thơ để tạo nên một phương thức quan hệ mới với xã hội.
Bị lạm dụng tình dục, nhiều trẻ VTN đã có quan hệ tình dục, VTN ít được tiếp cận với những phương tiện bảo vệ họ chống lại những vấn đề về tình dục. Giải pháp cho việc phòng ngừa là cung cấp cho VTN những kiến thức về SKSS và tình dục an toàn.
Sự mất cân bằng tạm thời trong tâm lý và tình cảm:
Do sự phát triển cơ thể đã tạo ra sự mất cân bằng trong tâm lý, tình cảm của các em. Các quá trình hưng phấn của võ não mạnh chiếm ưu thế, các quá trình ức chế có điều kiện bị suy giảm, do đó, có nhiều em không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được các xúc động mạnh hưng phấn của võ não lại mang tính chất lan toả nhiều hơn, nên các em thường có những cử chỉ, động tác phụ của tay, chân, đầu, mình mỗi khi có một phản ứng nào đó, nhất là các em trai [3;tr.41]
Những sự mất cân bằng trên là điển hình cho tuổi VTN, nhưng chúng chỉ tạm thời và sẽ qua đi theo sự trưởng thành dần lên của các em. Tuy nhiên, một số hành vi và sự chọn lựa của tuổi VTN có thể gây hậu quả suốt đời nếu các em thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ của người lớn, đồng thời thiếu kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ.
Tự ý thức và đánh giá về bản thân:
Do muốn làm người lớn và muốn được đối xử như người lớn, nên VTN thường có những hành vi bắt chước người lớn, dễ tự ái dễ bị kích động. Các em có khuynh hướng muốn đi sâu vào bản thân mình, đồng thời lại muốn toả ra ngoài xã hội. VTN thường đặt ra câu hỏi: Ta là ai? Ta có thể làm được cái gì? Các em bắt đầu chú ý đến hình thức bên ngoài, có những lúc ngắm nghía hồi lâu qua gương…. Lòng tự ái thường không chỉ giới hạn ở sự tôn sùng bản thân mà còn biểu hiện ở tính ganh đua, hiếu thắng trong giao tiếp với người khác (như trong thi đấu thể thao, văn nghệ…). Các em thường bận tâm phải làm thế nào để mọi người để ý đến mình, vì vậy, nếu là nữ sẽ có biểu hiện thích làm dáng, trang điểm; là con trai thích tỏ ra dáng “mày râu”hay khoe khoang, ăn nói kiểu khác đời[3;tr.42]
Đối với HS THCS, lứa tuổi thích làm người lớn những thay đổi thể chất và biến đổi tâm sinh lý trẻ con không ra trẻ con, người lớn không ra người lớn là những dấu hiệu rõ rệt nhất. VTN nhìn chung là thế hệ công dân khoẻ mạnh, có những cơ hội và sự lựa chọn ngày càng cao. Vì vậy, họ là một lực lượng mạnh mẽ để tạo ra sự thay đổi. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số lớn VTN vẫn bị đe doạ bởi những nguy cơ về phương diện sức khoẻ và sự phát triển để hoàn thiện bản thân.
Tuổi VTN là giai đoạn quan trọng để hình thành tính cách và bản sắc. Đây là giai đoạn nhiều thanh thiếu niên tham gia vào cuộc sống xã hội và có đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau với sự chín muồi cả về thể chất và tâm lý. Vì vậy việc GD SKSS cho HS THCS có ý nghĩa rất quan trọng , tạo suy nghĩ chín chắn cho các em trước những cám dỗ không lành mạnh trong xã hội ngày nay.
1.3.2. Giáo dục sức khoẻ sinh sản VTN cho học sinh THCS
a. Mục đích của giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh
Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THCS nhằm củng cố và nâng cao kiến thức, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho học sinh THCS trong các mối quan hệ với bạn bè khác giới, giúp học sinh vượt qua những khó khăn của tuổi mới lớn một cách an toàn để có cuộc sống an toàn, lành mạnh và phát huy văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
b. Nội dung chủ yếu của giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THCS
GD SKSS cho lứa tuổi VTN là một bộ phận quan trọng trong chiến lược chăm sóc SKSS VTN. Mục đích của việc GD SKSS cho HS nhằm trang bị cho các em những kiến thức, hình thành những thái độ hành vi đúng đắn trong các mối quan hệ với bạn bè khác giới; những kiến thức về phòng tránh bệnh tật thông thường; các biện pháp tránh thai, phòng chống nhiễm HIV/AIDS và các BLNQĐTD. Đồng thời, giúp HS vượt qua những khó khăn của tuổi VTN để an toàn xây dựng cuộc sống lành mạnh, bắt đầu hình thành sự tự ý thức về thế giới quan, sự chuẩn bị và sự lựa chọn nghề nghiệp để bước vào tương lai.
Kế hoạch hành động sau hội nghị Cai-rô (Ai Cập) của Quỹ dân số Liệp hiệp quốc mô tả SKSS với 6 nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau: Tình dục; KHHGĐ; sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn; Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây nhiễm qua đường tình dục; phá thai; vô sinh [14;tr.18].
Mỗi nước, mỗi khu vực lại có những vấn đề ưu tiên riêng của mình nên các tổ chức tham gia vào chương trình lại chi tiết hoá thành 10 nội dung: Làm mẹ an toàn: KHHGĐ; Giảm nạo hút thai và nạo hút thai an toàn; SKVTN; Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; Các BLNQĐTD
kể cả HIV/AIDS; Ung thư vú và các ung thư bộ máy sinh dục khác; Vô sinh; GD tình dục học; Thông tin-Giáo dục-Truyền thông (TGT) về SKSS [14;tr.7].
Nội dung GD SKSS VTN là những nội dung nói chung của SKSS, nhưng được ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi VTN. bao gồm
Làm mẹ an toàn: Làm mẹ an toàn là đảm bảo sức khoẻ tốt cho phụ nữ và thai nhi trong quá trình mang thai, sinh đẻ và giai đoạn hậu sản. Như vậy, làm mẹ an toàn là những biện pháp được áp dụng để đảm bảo sự an toàn cho cả người mẹ và thai nhi (cũng như trẻ sơ sinh). Mục đích là giảm tử vong và bệnh tật ngay từ khi người phụ nữ mang thai, trong khi sinh, và suốt trong thời kỳ hậu sản.
Kế hoạch hoá gia đình: KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của một cặp (hoặc cá nhân) nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con, không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các biện pháp tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để tránh có thai. Thực hiện tốt công tác KHHGĐ sẽ giảm được số sinh, giảm được tử vong mẹ do sinh nhiều và phá thai ngoài kế hoạch, giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh và trẻ em, giảm tỷ lệ vô sinh và chữa ngoài tử cung.
Giảm nạo hút thai: Việc phòng tránh có thai ngoài ý muốn, nạo hút thai an toàn cũng như hướng dẫn lựa chọn thời điểm sinh nở và khoảng cách sinh nở là một trong những biện pháp quan trọng nhất để giảm tử vong bà mẹ và trẻ em.
Sức khoẻ VTN:
Đời sống kinh tế, xã hội ngày càng được cải thiện và sự tác động của toàn cầu hoá về kinh tế, xã hội, VTN ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới bước vào tuổi dậy thì sớm, đi vào yêu đương và có quan hệ tình dục. Bên cạnh những biểu hiện tích cực vẫn còn không ít
những hiện tượng tiêu cực trong lứa tuổi này như có quan hệ trước hôn nhân, các BLNQĐTD, HIV/AIDS ngày một gia tăng. Hiểu biết SKSS VTN còn rất hạn chế. Những vấn đề trên không còn là vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân mà là vấn đề của xã hội. Trong GD SKSS cho HS THCS: GD tình dục, nhận thức và quan điểm về tình dục an toàn và lành mạnh, phòng ngừa những BLNQĐTD và phòng chống nhiễm HIV/AIDS, ngăn chặn hiện tượng mang thai và nạo phá thai ở tuổi VTN, xác định thời điểm kết hôn và sinh con hợp lý, các biện pháp KHHGĐ…
Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: BNKĐSS là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, đặc biệt là ở những nước chậm phát triển, không những ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ bản thân người phụ nữ mà còn để lại những hậu quả xấu đến con cái họ.
Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục: BLNQĐTD là những bệnh lây truyền chủ yếu bằng cách tiếp xúc trực tiếp thân thể đặc biệt là quá trình sinh hoạt tình dục. Bệnh có thể lây truyền chủ yếu thường gặp ở những người quan hệ tình dục khác giới [14].
Hoạt động tình dục ở VTN còn dẫn đến một hậu quả nguy hiểm khác là nguy cơ mắc các BLNQĐTD, kể cả nhiễm HIV/AIDS. Hàng năm trên thế giới một số nữa người bị nhiễm HIV thuộc nhóm dưới 25 tuổi. Còn ở các nước đã phát triển, cứ 3 người mắc các bệnh BLNQĐTD trong năm, thì 2 người dưới 24 tuổi, và người ta ước tính ở các nước đang phát triển tỷ lệ này cao hơn nhiều [21].
Sàng lọc và chẩn đoán ung thư vú và các ung thư bộ phận sinh dục:
Trong các khối u sinh dục nữ, người ta phân loại một cách tương đổi theo vị trí: Khối u ở vú, khối u buồng trứng, u ở tử cung. Mỗi loại có thể lành tính và thể ác tính nhưng nhấn mạnh đến ung thư vú và ung
thư tử cung vì tần suất mắc các bệnh dường như đang tăng lên và tỷ lệ
tử vong vẫn còn cao không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả thế giới.
Vô sinh: Tỷ lệ vô sinh trên thế giới chiếm khoảng từ 10 đến 18% dân số, trong đó nữ chiếm 40% nam chiếm 30%, có 20% là do nam và nữ và 10% vô sinh không biết rõ lý do. Chăm sóc SKSS không chỉ quan tâm đến bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em (BVSKBMTE), nạo hút thai an toàn hoặc thực hiện tốt công tác KHHGĐ, mà còn phải quan tâm chăm sóc những người bị vô sinh hoặc khó khăn trong việc có thai nhằm đem lại hạnh phúc gia đình cho mọi người [14].
Giáo dục tình dục học: GD có tác dụng trì hoãn quan hệ tình dục, đặc biệt là nếu VTN được GD tình dục trước khi họ bước vào hoạt động tình dục, họ thường trì hoãn quan hệ tình dục, hoặc nếu có quan hệ tình dục thì cũng quan hệ một cách an toàn và có trách nhiệm.
GD tình dục không làm cho VTN có hoạt động tình dục sớm hay mạnh mẽ hơn. Theo WHO, dựa trên 1.050 bài báo khoa học viết về giáo dục giới tính đã khẳng định điều này [21].
Các chương trình GD sẽ giúp các em học sinh về kỹ năng truyền thông; thảo luận về áp lực văn hoá – xã hội thôi thúc lớp trẻ có kiến thức về tình dục. Khi đã có những kiến thức nhất định về khoa học trong quan hệ tình dục, các em sẽ biết giữ gìn sức khoẻ, phòng bệnh.
Thông tin- Giáo dục-Truyền thông về SKSS: Thông tin -giáo dục- truyền thông có một vai trò hết sức quan trọng với mục đích giúp cho mọi người nâng cao được trình độ, nhận thức và hiểu biết do thiếu hụt về kiến thức, giúp họ thay đổi về nhận thức, hành vi và tạo được kỹ năng sống để thực hiện tốt những yêu cầu về chăm sóc SKSS. Công tác TGT trong chăm sóc SKSS là cung cấp những thông tin, GD, đào tạo, tuyên truyền, thuyết phục, tư vấn cho mọi người làm thế nào để thực
hiện mục tiêu, chủ trương của chính phủ, Bộ Y tế đề ra, nhằm nâng cao sức khoẻ và chất lượng cuộc sống.
c. Các phương pháp quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THCS
Phương pháp GD là cách thức tác động của các nhà GD lên đổi tượng GD để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết.
Các phương pháp GD SKSS cho HS là cách thức tác động của nhà GD nhằm đưa nội dung SKSS đến HS, thực hiện trong sự thống nhất nhằm đạt được mục đích đề ra.
Các phương pháp quản lý GD SKSS chia thành 3 nhóm:
* Nhóm các phương pháp hình thành ý thức và tình cảm cá nhân.
+ Phương pháp đàm thoại: Sử dụng các đề tài, các chủ đề có liên quan đến nội dung SKSS giúp cho HS nắm được các khái niệm về kiến thức SKSS và hình thành thái độ hành vi đúng đắn trong lĩnh vực chăm sóc SKSS.
Phương pháp kể chuyện: Là phương pháp giáo viên dùng lời nói, điệu bộ, cử chỉ và nét mặt để kể lại một câu chuyện nào đó. Qua nội dung câu chuyện có thể hình thành và phát triển cho HS những tích cực và các niềm tin đúng đắn, có thể học tập những gương tốt và tránh những gương xấu.
+ Phương pháp giảng giải và khuyên răn: Là phương pháp nhà GD dùng lời nói để giải thích, để chứng minh các chuẩn mực xã hội được quy định nhằm giúp cho người được GD nắm được nội dung, ý nghĩa của các chuẩn mực đó. Nhờ vậy, người được GD có cơ hội để lĩnh hội một cách tích cực các chuẩn mực xã hội trên cơ sở sẽ hình thành tình cảm, niềm tin và có thể tự giác thực hiện các chuẩn mực này.
* Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn để hình thành kinh nghiệm ứng xử xã hội cho người được GD.
+ Phương pháp giao công việc: Là phương pháp lôi cuốn HS có các hoạt động đa dạng với những công việc nhất định với ý nghĩa xã hội thể hiện những kinh nghiệm ứng xử trong các mối quan hệ đa dạng phù hợp với yêu cầu của công việc được giao.
+ Phương pháp tập thói quen: Là phương pháp tổ chức cho HS một cách đều đắn và có kế hoạch nhất định nhằm biến những hành động này thành thói quen ứng xử.
– Cần phải giúp cho HS nắm được các nội dung, các qui tắc, các hành vi về SKSS mà các em cần phải học tập, làm cho các em hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này.
+ Phương pháp luyện tập: Là phương pháp tổ chức cho HS thể hiện ý thức tình cảm của mình, qua đó, có thể hình thành và củng cố cho HS các hành vi phù hợp trong lĩnh vực SKSS.
* Nhóm các phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi ứng xử
của người được GD.
+ Phương pháp thi đua: là phương pháp kích thích khuynh hướng tự khẳng định mình của người được GD, thúc đẩy các em cố gắng hăng hái vươn lên và lôi cuốn người khác để giành được những thành tích xuất sắc cho cá nhân và tập thể.
+ Phương pháp nêu gương: Là phương pháp mà nhà GD dựa trên cơ sở tâm lý hay bắt chước của HS và nêu lên những tấm gương sáng để HS học tập và làm theo.
+ Phương pháp khen thưởng: Đây là phương pháp biểu thị sự đánh giá tích cực đối với hành vi ứng xử của HS.
+ Phương pháp trách phạt: Đây là phương pháp biểu thị sự không
đồng tình, sự phản đối, sự phê phán những hành vi sai trái của HS so với các chuẩn mực xã hội quy định.
Với những phương pháp kể trên, nhà GD tùy từng tình huống để sử dụng những phương pháp nào cho phù hợp để đạt được mục đích GD. Điều này, tùy thuộc vào kinh nghiệm thực tiễn và khả năng của nhà
GD.
d. Các hình thức tổ chức giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh
THCS
Công tác Giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh THCS có thể tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau:
– Thông qua các môn học chính khoá trong nhà trường: Đây là hình thức thuận lợi nhất giúp học sinh nắm bắt kiến thức về SKSS một cách đầy đủ và có hệ thống.
– Thông qua những hoạt động ngoài giờ lên lớp: GDSKSS không chỉ đóng khung trong các giờ dạy trên lớp mà còn phải thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khoá. Hình thức này nhằm thu hút đông đảo các lực lượng xã hội khác cùng tham gia, có tính chất thực tế, nhằm làm phong phú thêm những kiến thức mà học sinh thu nhận được qua sách vở ở trường. Hình thức này gồm nhiều hoạt động như:
* Tổ chức thi tìm hiểu, tiểu phẩm, văn nghệ , TDTT…
* Tổ chức tuyên truyền về GDSKSS qua đội tuyên truyền măng non của nhà trường.
* Tổ chức toạ đàm, diễn đàn “Điều em muốn nói”để các em có các câu hỏi và các chuyên gia về SKSS sẽ trả lời thắc mắc.
– Thông qua các hoạt động xã hội: Hoạt động xã hội là môi trường để
phổ biến rộng rãi kiến thức về SKSS, GDSKSS cho học sinh THCS thông qua
các hoạt động tập thể như sinh hoạt câu lạc bộ, giao lưu với các đoàn thể, tổ
chức khác nhằm trao đổi, nâng cao kiến thức về SKSS…
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\DANG NGOC LAM


