Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai

Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai

Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, quá trình hội nhập của các doanh nghiệp trong các nền kinh tế diễn ra nhanh hơn rất nhiều so với trước đây và biến đối sâu sắc toàn cảnh bức tranh của các nền kinh tế. Các thay đổi đã và đang tác động đến thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp. Dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào thì hàng ngày các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với hàng loạt các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình. Các rủi ro có thể đem lại lợi ích, là cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp nhưng cũng có thể đem lại thiệt hại làm ảnh hưởng xấu tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quản lý tốt rủi ro giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro trong tương lai và có thể giúp quản lý tốt hậu quả do rủi ro gây ra. Quản lý rủi ro hiệu quả, doanh nghiệp có thể tối đa hóa được lợi nhuận thông qua việc giảm thiểu khả năng xảy ra của rủi ro và tối thiểu hóa các tổn thất của rủi ro, giảm thiểu được chi phí phát sinh cho doanh nghiệp. Xét trên những lợi ích mang lại thì thực hiện tốt công tác quản lý rủi ro sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ứng phó tốt với các rủi ro bất lợi.

Cũng như các tổ chức kinh tế khác, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm cũng phải chịu tác động của hàng loạt các rủi ro do môi trường kinh doanh mang lại. Do đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là hoạt động theo cơ chế chuyển giao rủi ro, chấp nhận rủi ro là nguồn duy nhất mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm. Một lĩnh vực hoạt động nhạy cảm và tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Vì vậy, quản lý tốt rủi ro đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm. Quản lý rủi ro được coi là hoạt động cấp thiết và như là bản năng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm lớn trên thế giới và càng trở nên đặc biệt cấp thiết đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam trong môi trường kinh doanh hiện nay.

Đối với công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới là nghiệp vụ chủ yếu mang lại nguồn thu nhập lớn cho công ty, tuy nhiên rủi ro của hoạt động này mang lại cũng không nhỏ, làm gia tăng chi phí, giảm thu nhập, làm xấu đi tình hình tài chính cuối cùng làm tổn hại đến uy tín và vị thế của công ty.

Vì thế để có thể khẳng định vị thế và nâng cao hiệu quả hoạt động, công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả, phù hợp. Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết này, tôi đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của công ty.

Hai là, đánh giá thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới của công ty.

Ba là, trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận dạng, đo lường, phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới và đề ra các giải pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai.

  • Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai trong giai đoạn từ 2012 – 2014, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tại công ty.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Kinh tế học vi mô, vĩ mô; lý thuyết bảo hiểm; lý thuyết quản trị quản trị rủi ro,…
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chuyên gia …

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới và rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại tại công ty bảo hiểm, về quy trình quản trị rủi ro cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tại hệ thống các doanh nghiệp bảo hiểm.

  • Tổng hợp, phân tích, đánh giá nguyên nhân gây ra rủi ro và thực trạng công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai.
  • Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới Trong bối cảnh và điều kiện đặc thù của công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai.

6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:

– Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới

  • Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai.
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai.

7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

a. Rủi ro : Cho đến nay chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái khác nhau có những định nghĩa về rủi ro khác nhau.

– Theo trường phái tiêu cực (hay còn gọi trường phái truyền thống) :

Rủi ro được coi là sự không may, sự tổn thất, mất mát…Trong lĩnh vực kinh doanh thì rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

– Theo trường phái trung hoà:

Theo các giả Frank Knight định nghĩa “ Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” hoặc như các tác giả C.Authur William, Jr Micheal, L Smith thì cho rằng “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước”. Như vậy theo trường phái trung hoà, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.

Rủi ro vừa có tính tích cực vừa có tính tiêu cực. Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm… nhưng rủi ro cũng có thể mang đến những cơ hội.

b. Quản trị rủi ro

Rủi ro tồn tại khách quan, song hành cùng với quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, trong kinh doanh quản trị rủi ro là một nội dung cần thiết không thể thiếu được trong quản trị doanh nghiệp. Đó là chức năng, nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản trị doanh nghiệp.

Có rất nhiều khái niệm về quản trị rủi ro trong kinh doanh:

Có tác giả thì cho rằng: Quản trị rủi ro là toàn bộ hoạt động của nhà quản trị thông qua nhận dạng, đo lường, kiểm soát rủi ro tổn thất để đưa ra biện pháp phòng ngừa thích hợp nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Có tác giả lại cho rằng: Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những rủi ro, tổn thất.

Một quan điểm khác lại cho rằng: Quản trị rủi ro là những quyết định tài chính và nên được đánh giá trong mối tương quan ảnh hưởng của chúng đến giá trị công ty.

1.1.2 Nội dung cơ bản công tác quản trị rủi ro

Quy trình quản trị rủi ro:

a. Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của tổ chức nhằm thống kê được tất cả các rủi ro đã và đang xảy ra đồng thời dự báo những rủi ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.

– Các phương pháp nhận dạng rủi ro:

+ Phương pháp phân tích báo cáo tài chính : Đây là phương pháp thông dụng, mọi tổ chức đều thực hiện. Phương pháp này do Criddle đề xuất năm 1962. Bằng cách phân tích tổng kết cấu tài sản, các báo cáo hoạt động kinh doanh và các tài liệu bổ trợ, Criddle cho rằng các nhà quản trị có thể xác định mọi đối tượng rủi ro của tổ chức về tài sản, pháp lý, nguồn nhân lực và dự báo các rủi ro trong tương lai. Phương pháp này không chỉ giúp thấy được các rủi ro thuần tuý mà còn giúp nhận dạng được các rủi ro suy đoán.

+ Phương pháp lưu đồ: Đây là một phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi ro. Để thực hiện phương pháp này trước hết cần xây dựng lưu đồ trình bày tất cả các hoạt động của tổ chức. Trên cơ sở lưu đồ đã lập, tiến hành liệt kê các rủi ro về tài sản nhân lực, trách nhiệm pháp lý trong từng khâu công việc được mô tả trên lưu đồ để nhận dạng các rủi ro mà tổ chức có thể gặp phải.

+ Phương pháp thanh tra hiện trường : Bằng các quan sát các bộ phận của tổ chức và các hoạt động tiếp sau nó, nhà quản trị có thể biết được nhiều những rủi ro mà tổ chức có thể gặp.

+ Phân tích các hợp đồng: Trong hoạt động kinh doanh hợp đồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, chính vì vậy phân tích hợp đồng là một phương pháp hữu hiệu để nhân ra các rủi ro. Khi phân tích các hợp đồng thì cần phải phân tích tất cả các bộ phận của hợp đồng từ các bên chủ thể cho đến nội dung các điều kiện, điều khoản và phần ký kết hợp động để phát hiện các rủi ro có thể xảy ra.

+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra.

b. Đo lường rủi ro

Nếu nhận dạng rủi ro tổn thất là nhằm xác định mặt chất thì đo lường rủi ro tổn thất là xác định về mặt lượng. Đo lường rủi ro tổn thất là việc xác định xác suất của chúng xảy ra ở mức độ nào? Tác hại của chúng ra sao? Nhằm xác định thái độ để kiểm soát rủi ro. Các tần số xuất hiện rủi ro có thể được phân chia thành các loại: tần suất xuất hiện cao, trung bình và thấp. Xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro nếu xảy ra ở các mức độ: mức độ nghiêm trọng cao, trung bình và thấp.

Để xác định mối quan hệ giữa tần số xuất hiện các rủi ro với mức độ nghiêm trọng của rủi ro tổn thất, phương pháp thường được các doanh nghiệp sử dụng là phương pháp phân tổ các loại rủi ro tổn thất cùng mức độ nghiêm trọng của chúng trên sơ đồ và lập bảng so sánh, đánh giá và cho điểm; tính giá trị trung bình và kết luận.

Ta có ma trận đo lường rủi ro, tổn thất:

Tần suất

xuất hiện

Mức độ

nghiêm trọng

ThấpCao
Thấp 

I

III
CaoIIIV

Ma trận này cung cấp một số cấu trúc khái niệm cho vấn đề đánh giá rủi ro. Ô số I diễn tả các rủi ro có tần số và mức độ nghiêm trọng thấp, những rủi ro này ít gây ra tổn thất và nếu có tổn thất xảy ra cũng ở mức độ thấp. Ô số II diễn tả những rủi ro có tần số thấp và mức độ nghiêm trọng cao, tổn thất ít xảy ra nhưng nếu xảy ra thì nghiêm trọng. Ô số III có tần số cao và độ nghiêm trọng thấp, tổn thất thường xảy ra nhưng tổn thất thì tương đối thấp. Ô số IV diễn tả các rủi ro có tần số và độ nghiêm trọng đều cao, tổn thất xảy ra thường xuyên và mỗi lần đều nghiêm trọng.

Cả hai nhân tố tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất đều cần thiết để đánh giá mức độ quan trọng tương đối của một nguy cơ rủi ro đối với tổn thất tiềm năng. Nhưng có một số ý kiến cho rằng, sự quan trọng của một số nguy cơ rủi ro thường phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tổn thất chứ không phải của tần số. Một rủi ro có thể gây ra thiệt hại to lớn dù hiếm khi xảy ra, đáng quan tâm hơn nhiều so với rủi ro thường xảy ra nhưng tổn thất nhỏ hay không có tổn thất. Việc phân chia theo mức độ tổn thất cho ta thấy mức độ nghiêm trọng được quan tâm nhiều hơn là tần số tổn thất. Để xác định mức độ nghiêm trọng của tổn thất, nhà quản trị phải đánh giá tất cả các loại tổn thất là hậu quả trực tiếp của một sự cố cũng như toàn bộ hậu quả về tài chính mà tổ chức phải gánh chịu.

Phân tích rủi ro: Nhận dạng rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro là bước khởi đầu, bước tiếp theo là phải đo lường phân tích rủi ro. Phân tích rủi ro để xác định được nguyên nhân xảy ra để có biện pháp tích cực phòng ngừa. Đây là công việc phức tạp bởi vì một rủi ro xảy ra thường có nhiều nguyên nhân: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân gần, nguyên nhân xa…

Quá trình nhận dạng và đo lường phân tích rủi ro có thể được khái quát bằng sơ đồ sau:

Nhận dạng rủi ro

Phân tích rủi ro

  • Nguyên nhân

Các biện pháp

phòng ngừa

c. Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, các chương trình hoạt động… để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến với tổ chức.

Các biện pháp để kiểm soát rủi ro được chia thành nhiều nhóm:

+ Các biện pháp né tránh rủi ro: là việc né tránh những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có. Để né tránh rủi ro thì thường tổ chức có thể chủ động né tránh từ trước khi xảy ra rủi ro hoặc né tránh bằng cách loại bỏ các nguyên nhân xảy ra rủi ro.

+ Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất : dùng để giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hai do rủi ro mang lại. Bao gồm các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn ngừa tổn thất và tập trung tác động vào môi trường rủi ro.

+ Các biện pháp giảm thiểu tổn thất : để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát do rủi ro mang lại. Thường thấy đó là việc cứu vớt những tài sản còn sử dụng được khi rủi ro hay ra, chuyển nợ, dự phòng, xây dựng các kế hoạc phòng ngừa rủi ro, phân tán rủi ro.

+ Chuyển gia rủi ro: chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác, tổ chức khác.

+ Đa dạng hoá rủi ro: gần giôngs với kỹ thuật phân tán rủi ro, đa dạng hoá rủi ro thường sử dụng trong các hoạt động của doanh nghiệp như đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá khách hàng … để phòng chống rủi ro.

d. Tài trợ rủi ro

Khác với các biện pháp kiểm soát rủi ro được thực hiện một cách chủ động nhằm ngăn chặn giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro hoặc giảm thiểu tổn thất, các biện pháp tài trợ rủi ro thực hiện nhằm mục đích khắc phục hậu quả về tài chính mà rủi ro gây ra. Tài trợ rủi ro được phân thành hai loại là Tự khắc phục rủi ro (còn gọi là lưu giữ rủi ro) và chuyển giao rủi ro. Trong hầu hết các trường hợp rủi ro thì sự lựa chọn sẽ cân nhắc giữa tự khắc phục rủi ro và chuyển giao rủi ro.

– Tự khắc phục rủi ro: Là biện pháp doanh nghiệp bị rủi ro tự mình thanh toán các tổn thất. Nguồn bù đắp rủi ro là nguồn tự có và nguồn vay có trách nhiệm tự hoàn trả. Vì vậy doanh nghiệp cần có kế hoạch dữ phòng tài chính để chi trả cho những rủi ro và có kế hoạch tài trợ cho những nghiệp vụ có rủi ro cao.

– Chuyển giao rủi ro: Là hình thức tài trợ rủi ro mà một số tổ chức khác ngoài doanh nghiệp bị rủi ro sẽ gánh chịu hậu quả tài chính của tổn thất. Tức là tạo ra nhiều thực thể khác nhau thay vì một thực thể gánh chịu tài trợ rủi ro. Lựa chọn chuyển giao rủi ro được coi là quyết định chủ động và có kế hoạch, có thể thực hiện chuyển giao rủi ro bằng nhiều cách như: chuyển tài sản và hoạt động có rủi ro cho một hay nhiều thực thể khác; chuyển giao bằng hợp đồng kinh tế chỉ chuyển giao rủi ro không chuyển giao tài sản và hoạt động của nó đến thực thể nhận rủi ro.

1.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI

1.2.1 Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới

a. Khái niệm

Kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới là một lĩnh vực trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm,ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm cho khách hàng khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trước trên hợp đồng.

b. Phân loại

Bảo hiểm xe cơ giới được chia làm các loại hình cơ bản sau:

– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba: Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm nhằm giải quyết bồi thường cho các thiệt hại về người và tài sản của bên thứ ba do lỗi của chủ xe phương tiện khi điều khiển xe cơ giới gây ra.

– Bảo hiểm vật chất xe (thân xe): nhằm bồi thường các thiệt hại cho chính các phương tiện xe cơ giới được bảo hiểm, xảy ra do các rủi ro, tai nạn bất ngờ ngoài sự kiểm soát của chủ xe.

– Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trên xe: nhằm bồi thường những tổn thất, thiệt hại đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

– Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe: nhằm giải quyết chi trả tiền bảo hiểm cho nhừng trường hợp bị thiệt hại về thân thể đối với lái xe và nhừng người ngồi trên xe bị tai nạn khi đang ở trên xe hoặc lên xuống xe trong quá trình xe đang tham gia giao thông.

1.2.2 Rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới

a. Khái niệm

Đây là loại rủi ro gắn với các nghiệp vụ bảo hiểm mà DNBH triển khai. Cụ thể hơn, các rủi ro này phát sinh liên quan đến sự không chắc chắn về tần suất, tính khốc liệt của rủi ro được bảo hiểm; liên quan đến thời gian thanh toán các khiếu nại trong tương lai và các chi phí liên quan gây tổn thất cho doanh nghiệp bảo hiểm, làm giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ bảo hiểm nhất định… Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả khác nhau cho doanh nghiệp bảo hiểm.

Rủi ro xảy ra khi đối tượng tham gia bảo hiểm thực hiện các hành vi trục lợi như khai tăng giá trị tổn thất, lập hồ sơ và tạo hiện trường giả, bảo hiểm trùng.

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.

Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, lĩnh vực bảo hiểm vẫn còn mới mẻ, các doanh nghiệp bảo hiểm thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu đối với doanh nghiệp. Vì vậy, rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn).

Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra.

Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai
Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai

b. Đặc điểm của rủi ro

  • Rủi ro mang tính gián tiếp

Khi mua bảo hiểm xe cơ giới thì khách hàng là người chuyển giao các rủi ro của mình cho doanh nghiệp bảo hiểm. Vì thế rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới xảy ra khi khách hàng gặp tổn thất và sự cố trong quá trình sử dụng và lưu thông xe cơ giới. Do đó, rủi ro của khách hàng là nguyên nhân gián tiếp gây nên rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp

Sự đa dạng, phức tạp thể hiện ở nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới. Rủi ro bảo hiểm khác nhau phụ thuộc nhiều vào đặc điểm đặc thù của sản phẩm bảo hiểm. Do đó, cần chú ý đến mọi dấu hiệu để phòng ngừa rủi ro nhanh chóng và kịp thời.

  • Rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Tình trạng thông tin bất cân xứng, làm cho doanh nghiệp không thể nắm bắt các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện. Vì vậy, luôn có những rủi ro tiềm ẩn. Do đó, doanh nghiệp cần phải cân nhắc giữa lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận được trong quá trình giao dịch và cấp bảo hiểm xe cơ giới.

c. Phân loại

  • Căn cứ về mặt giá trị rủi ro được chia thành hai loại:

+ Rủi ro tài chính: là rủi ro mà doanh nghiệp có thể xác định hậu quả bằng tiền cũng như ấn định một số giá trị của hậu quả.

+ Rủi ro phi tài chính: là rủi ro gây ảnh hưởng gây ảnh hưởng chủ yếu về mặt tinh thần và những vấn đề xã hội vì thế việc xác định hậu quả bằng một giá trị tài chính là không thể thực hiện được. Đối với một DNBH thì rủi ro phi tài chính đó có thể là hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp trong mắt khách hàng và trên thị trường bảo hiểm.

  • Căn cứ vào tính chất của rủi ro có thể phân chia thành:

+ Rủi ro thuần túy: là rủi ro xảy ra chỉ dẫn đến thiệt hại, mất mát.

Ví dụ: Người chủ một chiếc xe có rủi ro tổn thất tiềm ẩn liên quan đến một vụ đụng xe. Nếu có đụng xe người đó sẽ có tổn thất về tài sản, nếu không tình trạng tài chính của người đó sẽ vẫn như cũ. Trong trường hợp này không hề có yếu tố thu lợi.

+ Rủi ro suy đoán: là những rủi ro có thể đưa đến kết quả trái ngược nhau liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.

Có thể nói rằng: Những rủi ro thuần túy thì luôn làm người ta khó chịu nhưng những rủi ro suy đoán có mặt hấp dẫn nào đó.

Trên thực tế, các rủi ro thuần túy thông thường có được bảo hiểm, còn rủi ro suy đoán thì không được bảo hiểm. Bởi vì không ai muốn bảo hiểm các loại rủi ro trong đó hậu quả có thể là một món lời. Người ta sẵn sàng mua bảo hiểm cho những rủi ro đầu cơ với cơ hội kiếm lời. Động lực thúc đẩy họ cố gắng đạt lợi nhuận này sẽ là rất nhỏ nếu như họ biết được công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bất kể họ có cố gắng hay không. Về phương diện nguy cơ chúng ta có thể nói rằng nguy cơ tinh thần là rất cao.

  • Căn cứ vào phạm vi tác động, chia thành:

+ Rủi ro cơ bản: là những rủi ro xuất phát từ những biến cố khách quan và ảnh hưởng đến toàn xã hội như chiến tranh, khủng bố, khủng hoảng kinh tế, bất ổn về chính trị xã hội…Các doanh nghiệp bảo hiểm không bảo hiểm cho những loại rủi ro này.

+ Rủi ro riêng biệt: là các rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan, khách quan của từng cá nhận, tổ chức là khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm. Rủi ro loại này thường nằm trong phạm vi bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện chi trả cho khách hàng nhằm khắc phục những tổn thất.

  • Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro, gồm có:

+ Rủi ro thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như động đất, giông bão, …

+ Rủi ro do tai nạn bất ngờ: đâm va, lật đổ, …

+ Rủi ro do các hiện tượng xã hội: chiến tranh, đình công, bạo động, nổi loạn…

  • Căn cứ vào tác động của môi trường gây ra rủi ro, chia thành:

+ Rủi ro kinh tế: là những rủi ro bắt nguồn từ kinh tế như lạm phát, kinh tế toàn cầu bị suy thoái, khủng hoảng tài chính…Rủi ro này ảnh hưởng mạnh mẽ đến khâu khai thác của các doanh nghiệp bảo hiểm.

+ Rủi ro về mặt pháp lý liên quan đến sự đầy đủ, rõ ràng, minh bạch của pháp luật và tính hiện thực của luật pháp. Nếu luật pháp không đầy đủ, không rõ ràng, minh bạch… thì các doanh nghiệp bảo hiểm rất dễ gặp rủi ro trong kinh doanh.

+ Rủi ro từ môi trường cạnh tranh: số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng làm gia tăng mức độ cạnh tranh cho các doanh nghiệp bảo hiểm.

+ Rủi ro bắt nguồn từ thông tin về môi trường kinh doanh như doanh nghiệp không nhận được thông tin, thông tin chậm, thiếu thông tin hay thông tin sai lệch về khách hàng.

  • Căn cứ theo hoàn cảnh tác động chia thành:

+ Rủi ro bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan: là rủi ro tác động từ môi trường vĩ mô mà doanh nghiệp bảo hiểm không kiểm soát được như suy thoái kinh tế, lạm phát,…

+ Rủi ro bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan: là những yếu kém của doanh nghiệp bảo hiểm trong kinh doanh như thiếu vốn, không cập nhật thông tin trong quản lý, không kiến thức và kinh nghiệm…

d. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới

  • Nguyên nhân từ phía khách hàng mua bảo hiểm

+ Ý thức khách hàng trong việc sử dụng và lưu thông xe cơ giới;

+ Thông qua bảo hiểm để thực hiện trục lợi cho mình;

  • Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp

+ Chính sách quản lý không hiệu quả, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến thiếu xót trong quy trình khai thác, giám định và bồi thường bảo hiểm xe cơ giới.

+ Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ về đối tượng được bảo hiểm dẫn đến cấp bảo hiểm với mức phí không hợp lý.

+ Do cạnh tranh giành thị phần, doanh nghiệp buộc phải nới lỏng các điều kiện bảo hiểm.

+ Cán bộ bảo hiểm không chấp hành đúng quy trình bảo hiểm, yếu kém về trình độ nghiệp vụ, vi phạm đạo đức kinh doanh;

+ Hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ của doanh nghiệp còn yếu kém.

  • Nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh

+ Tình hình an ninh, trong nước, trong khu vực bất ổn.

+ Sự biến động quá nhanh của thị trường thế giới;

+ Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát;

+ Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành.

+ Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô.

+ Nguyên nhân bất khả kháng: thiên tai, hỏa hoạn…

e. Ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới

  • Đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Khi gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới, doanh nghiệp sẽ phải mất một khoản chi lớn để bồi đắp cho tổn thất của khách hàng, nhiều khi khoản chi lớn hơn rất nhiều so với phí mua bảo hiểm lúc đầu, điều này dẫn đến việc doanh nghiệp bị mất cân đối trong việc thu chi. Nếu quản trị rủi ro không tốt, Doanh nghiệp sẽ bị tội phạm tài chính tấn công, hoặc dễ bị các cá nhân liên quan lợi dụng để trục lợi làm cho việc kinh doanh không hiệu quả và có thể làm mất khả năng thanh toán bồi thường; giảm lòng tin của người khách hàng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của doanh ngiệp.

  • Đối với khách hàng

Khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải chịu thiệt hại nếu doanh nghiệp bảo hiểm quản lý kém, không thực hiện đúng trách nhiệm với khách hàng. Vì thế, nếu rủi ro xảy ra, khách hàng có thể gặp khó khăn vì lúc này doanh nghiệp bảo hiểm không thể đền bù các tổn thất cho họ nhất là khi các phương tiện tài sản mua bảo hiểm lại phục vụ cho quá trình vận chuyển hàng hoá sản xuất của khách hàng là các đơn vị vận tải, phân phối… Khi đó doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng về nguồn vốn phục vụ kinh doanh, chi phí cho việc thuê xe thay thế,… họ buộc phải quan hệ với các tổ chức tài chính khác và phải chịu một khoảng thời gian tìm hiểu, gây dựng lòng tin, phí giao dịch…làm trì hoãn quá trình kinh doanh sản xuất.

  • Đối với nền kinh tế xã hội

Cũng như ngân hàng thì các công ty bảo hiểm cũng là một trung gian tài chính, huy động vốn bằng cách bán chứng nhận bảo hiểm cho công chúng và sử dụng nguồn vốn huy động được để tái đầu tư trên thị trường. Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế xã hội, bảo hiểm đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài của mọi chủ thể dân cư và kinh tế. Bảo hiểm được xem là một trong những nhân tố giúp ổn định nền tài chính tiền tệ của một quốc gia. Vì vậy khi một doanh nghiệp gặp phải rủi ro sẽ làm ảnh hưởng, tác động xấu đến nền kinh tế, và các tổ chức khác như ngân hàng…

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới là hoạt động mạng lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, chính vì vậy mà những rủi ro trong hoạt động này cũng ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, kéo theo nhiều hệ luỵ cho cả nền kinh tế.

1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI

1.3.1 Khái niệm

Trong bảo hiểm xe cơ giới, rủi ro tồn tại tất yếu trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh. Có rủi ro được bảo hiểm, có rủi ro không. Nhưng cho dù là rủi ro nào thì khi xảy ra nó đều gây ra những ảnh hưởng nhất định cho DNBH. Vấn đề là DNBH có thể chấp nhận rủi ro ở mức độ nào là hợp lý trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữa mức phí và lợi nhuận.

Quản trị rủi ro bảo hiểm xe cơ giới là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, ảnh hưởng bất lợi của rủi ro thông qua việc xây dựng chính sách, thiết lập quy trình khai thác, giám định bồi thường bảo hiểm khi khách hàng xảy ra rủi ro.

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, ngày càng có nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm (trong nước và nước ngoài) tham gia cạnh tranh với nhau thì rủi ro ngày càng gia tăng với nhiều hình thức và mức độ khác nhau rất khó kiểm soát. Chính vì vậy, quản trị rủi ro luôn phải được quan tâm và là nhân tố quan trọng trong sự tồn tại của doanh nghiệp.

1.3.2 Mục tiêu của công tác quản trị rủi ro

Mục tiêu của quản trị rủi ro là để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở giữ mức độ rủi ro hoặc tổn thất ở mức doanh nghiệp có thể chấp nhận được trong phạm vi nguồn lực tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống rủi ro. Dự đoán rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao. Đồng thời, tổ chức phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể kiểm soát được.

Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc.

Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro.

1.3.3 Công tác nhận dạng rủi ro

Để quản trị rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm phải nhận dạng được rủi ro. Rủi ro của Người được bảo hiểm cũng là rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm, vì vậy, công ty bảo hiểm phải nhận dạng được rủi ro của Người được bảo hiểm nhằm đưa ra những lựa chọn chính xác.

Mục đích của nhận dạng rủi ro là nhằm phát hiện các thông tin về nguồn gốc của rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng của rủi ro và các loại tổn thất.

Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc: theo dõi rủi ro; xem xét các rủi ro; nghiện cứu môi trường hoạt động cụ thể của người được bảo hiểm và toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của họ nhằm thống kê được tất cả các rủi ro đã và đang xảy ra, đồng thời còn dự báo được những dạng rủi ro mới xảy ra của họ để đề ra các biện pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.

Các phương pháp nhận dạng rủi ro:

– Phương pháp lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra. Đây là phương pháp thông dụng mà các DNBH dùng để đánh giá rủi ro. Các câu hỏi thường là:

+ Người được bảo hiểm là ai?

+ Ngành nghề kinh doanh là gì?

+ Đối tượng được bảo hiểm là gì? Mô tả đặc tính kỹ thuật

+ Địa điểm, phạm vi hoạt động của đối tượng?

+ Giá trị tài sản và số tiền bảo hiểm là bao nhiêu?

+ Những rủi ro có thể gặp phải là gì?

+ Khách hàng đã từng tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm nào chưa?

+ Lịch sử tổn thất: Đã từng xảy ra tổn thất chưa? Giá trị tổn thất là bao nhiêu? Số lần tổn thất xảy ra trong một đơn vị thời gian? Lý do xảy ra là gì?

+ Khách hàng có sử dụng biện pháp nào để phòng ngừa và hạn chế tổn thất không? Kết quả ra sao?

– Phương pháp phân tích báo cáo: Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện phân tích bảng tổng kết tài sản, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, tài liệu bổ trợ khác, để có thể xác định được mọi nguy cơ rủi ro của khách hàng về tài sản, nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý.

– Phương pháp lưu đồ: là phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi ro. Để thực hiện phương pháp này cần xây dựng lưu đồ trình bày tất cả các hoạt động nghiệp vụ của Người được bảo hiểm.

Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai
Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PJICO Gia Lai

Đầu vào

Hộp đen

Đầu ra

– Phương pháp thanh tra hiện trường: Đây là công việc mà doanh nghiệp bảo hiểm quy định phải thực hiện trước và trong toàn bộ quá trình nhận bảo hiểm. Nhờ quan sát theo dõi tại hiện trường, doanh nghiệp phân tích đánh giá và nhận dạng các rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp trong tương lai. Ví dụ: khi cấp bảo hiểm vật chất xe cơ giới thì Nhân viên bảo trực tiếp đi giám định thực tế xe cơ giới cần phải chụp hình, đánh giá chi tiết xe (vì đây là hình thức có mức phí bảo hiểm cao và và nguy cơ gây ra rủi ro cho DNBH cũng cao vì chi phí đền bù nếu xảy ra tổn thất là rất lớn). Từ đó, xác định hiện trạng xe cơ giới, tính toán mức phí bảo hiểm hợp lý cho khách hàng. Tránh những gian lận hay sai sót trong khâu định giá hay trục lợi của khách hàng.

– Phương pháp phân tích hợp đồng: Phân tích cụ thể các hợp đồng có xảy ra rủi ro để tìm ra sơ hở, thiếu sót, từ đó có biện pháp khắc phục trong tương lai. Ví dụ: Nếu là bảo hiểm cho các doanh nghiệp vận tải thì DNBH nên yêu cầu khách hàng cung cấp hợp đồng mua bán và vận chuyển hàng hóa nhằm tìm hiểu quy cách đóng gói, cách thức xếp hàng, phương thức vận chuyển. Từ đó, có thể đánh giá được rủi ro có thể gặp phải trong quá trình vận chuyển hàng và đưa ra phương án bảo hiểm hợp lý.

– Làm việc với cơ quan nhà nước, cơ quan cấp trên, cơ quan lập pháp, để tìm hiểu các nguyên nhân xảy ra rủi ro cũng như các nhận định của cơ quan cấp trên về rủi ro mà khách hàng gặp phải.

Trên thực tế, để nhận dạng rủi ro một cách hiệu quả nhất các doanh nghiệp bảo hiểm thường phải kết hợp tất cả các biện pháp trên, đặc biệt là phương pháp lập câu hỏi điều tra và phương pháp thanh tra hiện trường.

1.3.4 Công tác đo lường rủi ro

Nếu nhận dạng rủi ro tổn thất là nhằm xác định mặt chất thì đo lường rủi ro tổn thất là xác định về mặt lượng. Đo lường rủi ro tổn thất là việc xác định xác suất của chúng xảy ra ở mức độ nào? Tác hại của chúng ra sao? Nhằm xác định thái độ để kiểm soát rủi ro. Các tần số xuất hiện rủi ro có thể được phân chia thành các loại: tần suất xuất hiện cao, trung bình và thấp. Xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro nếu xảy ra ở các mức độ: mức độ nghiêm trọng cao, trung bình và thấp.

Để đo lường rủi ro, tổn thất người ta có thể căn cứ vào các loại rủi ro xảy ra, mức độ tổn thất của rủi ro, điều kiện phương tiện thời gian và nguồn lực cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp cho phù hợp.

Công thức để đo lường rủi ro là:

Định lượng rủi ro = Xác suất xuất hiện x Mức độ nghiêm trọng

Các phương pháp dùng để xác định rủi ro gồm có:

+ Phương pháp thống kê kinh nghiệm.

+ Phương pháp xác suất thống kê.

+ Ứng dụng phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên.

+ Áp dụng các quy luật phân phối xác suất chuẩn, quy luật phân phối nhị thức…

Để đo lường tổn thất xảy ra người ta dùng các phương pháp:

+ Phương pháp trực tiếp: là phương pháp xác định tổn thất hàng hóa bằng cân đo, đếm tổn thất, thường dùng để xác định tổn thất bộ phận, tổn thất toàn bộ.

+ Phương pháp suy diễn: là phương pháp gián tiếp để xác định các lợi ích mất hưởng, chi phí cơ hội…

+ Phương pháp điều tra chọn mẫu, để xác định tổn thất trong trường hợp quy mô tổn thất xảy ra rộng lớn.

+ Phương pháp chuyên gia: sử dụng kinh nghiệm để ước lượng tổn thất.

  • Phân tích rủi ro được bắt đầu bằng cách làm sáng tỏ nguồn gốc, nguyên nhân gây ra rủi ro và khả năng thiệt hại. Phải xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra biện pháp phòng ngừa. Vấn đề là làm sao nhận dạng những rủi ro nào là trọng yếu trong rất nhiều rủi ro cùng tác động đến một đối tượng, để đảm bảo quản lý vừa có hiệu quả, nâng cao chất hiệu quả và có trọng tâm.

Có thể vận dụng nguyên lý về tập trung của Pareto([1]) trong công tác phân tích rủi ro, tập trung vào các nhân tố then chốt. Nguyên lý về tập trung cho rằng với 20% nỗ lực sẽ tạo ra 80% kết quả cuối cùng.

Về bản chất của nguyên lý về tập trung, Pareto cho rằng trong toàn thể một nhóm thì những nhân tố quan trọng nhất bao giờ cũng chiếm một số tương đối nhỏ. Do vậy, để quản trị, đánh giá phân tích rủi ro nhất thiết phải xác định được nhân tố then chốt, quan trọng và có thể thực hiện điều này thông qua áp dụng nguyên lý Pareto.

1.3.5 Công tác kiểm soát – phòng ngừa rủi ro

– Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm.

– Kiểm soát rủi ro được ưu tiên sử dụng trong ba trường hợp sau:

+ Chi phí tài trợ rủi ro lớn hơn chi phí tổn thất.

+ Tổn thất phát sinh gián tiếp hay những chi phí ẩn không được phát hiện trong một thời gian dài.

+ Tổn thất gây nên những tác động bên ngoài ảnh hưởng không tốt đến tổ chức.

– Các biện pháp cơ bản để kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro là: các biện pháp né tránh rủi ro, các biện pháp phòng ngừa tổn thất, các biện pháp đa dạng hóa rủi ro, các biện pháp chuyển giao rủi ro, …Áp dụng các biện pháp này là một nghệ thuật đòi hỏi sự sáng tạo linh hoạt, mềm dẻo của nhà quản trị rủi ro.

  • Né tránh rủi ro

– Nội dung: là né tránh những hành động, con người, tài sản làm phát sinh tổn thất có thể có bởi không thừa nhận nó ngay từ đầu hoặc loại bỏ nguyên nhân gây ra tổn thất đã được thừa nhận.

– Ưu điểm của biện pháp này là: đơn giản, triệt để và chi phí thấp.

– Nhưng cũng có những nhược điểm như: Doanh nghiệp có thể mất đi lợi ích có được từ tài sản, hoạt động đó; doanh nghiệp có thể tránh được rủi ro này nhưng lại gặp phải rủi ro khác; có những tình huống mà doanh nghiệp không thể né tránh hoặc nguyên nhân tổn thất gắn liền với bản chất của hoạt động.

  • Ngăn ngừa tổn thất

– Nội dung: biện pháp này tìm cách giảm bớt số lượng tổn thất xảy ra hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn. Ở đây, chuỗi rủi ro là rất quan trọng vì các hoạt động ngăn ngừa rủi ro tập trung vào ba mắt xích đầu tiên của chuỗi: sự nguy hiểm, môi trường rủi ro, sự tương tác giữa mối nguy hiểm và môi trường. Điều đó có nghĩa là các hoạt động ngăn ngừa tập trung vào: thay thể hoặc sửa đổi hiểm họa; thay thế hoặc sửa đổi môi trường; thay thế hoặc sửa đổi cơ chế tương tác.

– Ưu điểm của biện pháp này là: việc ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thất trong khi vẫn cho phép doanh nghiệp bảo hiểm bắt đầu hoặc tiếp tục hoạt động gây nên rủi ro đó.

– Nhược điểm: biện pháp này chỉ hạn chế được một phần của rủi ro.

  • Giảm thiểu tổn thất

– Nội dung: Các biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro bằng cách làm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra (tức giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất). Những hoạt động giảm thiểu tổn thất là những biện pháp sau khi tổn thất đã xảy ra. Mặc dù những biện pháp này được đặt ra trước khi một tổn thất nào đó xuất hiện, những chức năng hoặc mục đích của những biện pháp này là làm giảm tác động của tổn thất một cách hiệu quả nhất. Cụ thể các doanh nghiệp bảo hiểm phải tích cực cứu vớt tài sản còn sử dụng được; Chuyển nợ đòi bồi thường cho bên thứ ba; Xây dựng các kế hoạch phòng ngừa rủi ro; Dự phòng: trích lập các quỹ dự phòng bồi thường.

– Ưu điểm: làm giảm bớt giá trị hư hại do tổn thất gây ra.

– Nhược điểm : thực hiện khi rủi ro đã xảy ra.

  • Đa dạng hóa rủi ro:

– Nội dung: Đây là một nỗ lực của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm làm giảm sự tác động của tổn thất lên toàn bộ doanh nghiệp. Để thực hiện tốt biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải đa dạng hóa thị trường khai thác, đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm và đa dạng hóa kênh phân phối sản phẩm.

– Ưu điểm: doanh nghiệp có thể giảm được tổn thất bằng cách phân chia rủi ro thành nhiều dạng khác nhau và tận dụng sự khác biệt để dùng may mắn của rủi ro này bù đắp cho rủi ro khác.

– Nhược điểm: để thực hiện được biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực về mặt tài chính, nguồn nhân lực…tốt để đủ sức cạnh tranh.

  • Chuyển giao rủi ro:

– Nội dung: là công cụ kiểm soát rủi ro, tạo ra nhiều thực thể khác nhau thay vì một thực thể phải gánh chịu rủi ro. Cụ thể ở đây là các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện ký kết hợp đồng tái bảo hiểm với các công ty tái bảo hiểm hay một công ty bảo hiểm khác. Tái Bảo hiểm là phương pháp chuyển giao bớt rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để nhượng một phần trách nhiệm trước đối tượng được bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác hoặc công ty tái bảo hiểm bằng một hợp đồng tái bảo hiểm.

– Ưu điểm: doanh nghiệp có thể giảm bớt được rủi ro một cách đáng kể.

– Nhược điểm: đôi khi mất chi những phần lợi nhuận đáng ra doanh nghiệp sẽ được hưởng thì phải chia sẻ bớt cho doanh nghiệp nhận chuyển giao rủi ro.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\QUAN TRI KINH DOANH\LUAN VAN GIA LAI\New folder\LIEM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *