Quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp ở Trường Đại học Bình Dương
1. Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài
Nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong thời đại công nghệ 4.0. Đòi hỏi nguồn NL có nghiệp vụ và chuyên môn cao để áp dụng được khoa học kỹ thuật trong công việc, đáp ứng được yêu cầu của TTLĐ trong công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là nhu cầu cấp bách hàng đầu hiện nay.
Nghị quyết 29/NQ –TW của Ban chấp hành Trung ương khóa 8 – Đại hội 11 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã đánh giá: “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của TTLĐ; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất”. Về chiến lược phát triển kinh tế – xã hội định hướng “Đổi mới mạnh mẽ nội dung GDĐH và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống GDĐH. Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới”.
Theo Luật giáo dục Đại học 2018 (sửa đổi và bổ sung) Đảng và Nhà nước ta luôn coi phát triển GDĐH để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong thời đại công nghiệp 4.0 vấn đề đào tạo nhân lực ngày càng trở nên cấp bách, đòi hỏi nguồn NL chất lượng cao, cơ cấu ngành nghề thích ứng và qui mô lớn. Từ đó yêu cầu các trường Đại học gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của thị trường, nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ; có chính sách ưu đãi về thuế cho các sản phẩm khoa học và công nghệ của cơ sở giáo dục đại học; khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tiếp nhận, tạo điều kiện để người học và giảng viên thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Đây là những quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng với việc phát triển GDĐH.
Trong thời gian qua, GDĐH đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, chất lượng GDĐH từng bước được thế giới công nhận thông qua kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học quốc tế. Tỷ lệ SV tốt nghiệp đại học có việc làm khá cao, tự chủ đại học cũng được đẩy mạnh. Nhìn chung, GDĐH đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại sau:
Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được những diễn biến nhanh chóng của nền kinh tế và quá trình phát triển công nghệ đặt ra như nội dung chương trình chưa gắn với nhu cầu thực tế của DN, chất lượng đào tạo vẫn còn khoảng cách lớn giữa trình độ và kỹ năng của SV mới tốt nghiệp và yêu cầu của DN sử dụng lao động. Vì vậy rất nhiều SV sau khi tốt nghiệp chưa tìm được việc làm. Các DN đều khó tìm được những lao động vừa ý, hoặc sau khi tuyển dụng DN phải tổ chức tập huấn hoặc đào tạo lại chuyên môn, nghiệp vụ thì mới thích ứng được.
Cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu NL của các DN và khu công nghiệp như thiếu lao động trình độ kỹ năng cao cho các DN thuộc ngành kinh tế mũi nhọn, DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, với sự phát triển nhanh chóng của tỉnh Bình Dương về các khu công nghiệp và cụm công nghiệp. Tính đến năm 2019, Tỉnh Bình Dương có 48 khu công nghiệp với khoảng 4.000 DN vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và hơn 40.000 DN trong nước và số lượng DN sẽ tiếp tục tăng. Chính vì vậy nhu cầu lao động chất lượng cho DN tăng cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các khu công nghiệp cũng như sự phát triển của tỉnh Bình Dương.
Đặc biệt, chất lượng đào tạo là vô cùng quan trọng trong quá trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Trường Đại học Bình Dương nói riêng để gắn kết giữa lý thuyết và thực hành qua đó nâng cao chất lượng đào tạo của trường, sinh viên tốt nghiệp có việc làm ngay. Qua đó giúp nhà trường có sự cạnh tranh với các trường đại học trong tỉnh và khu vực lân cận. Với việc nâng cao chất lượng đào tạo sẽ thu hút các nguồn học sinh trong và ngoài tỉnh theo học tại trường đảm bảo chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của trường và nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu vào.
Hiện nay NT đã có những hoạt động liên kết đào tạo với các DN tại địa phương để thực hiện nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên NT vẫn chưa quan tâm đúng mức đến quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN. Mặt khác trong quản lí, hoạt động đào tạo chưa gắn với nhu cầu tuyển dụng của DN và chưa phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ sản xuất của DN và vẫn chưa thu hút được sự quan tâm hỗ trợ từ phía DN. Xuất phát từ lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp ở Trường Đại học Bình Dương” cho luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Quản lí giáo dục của bản thân.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lí luận và đánh giá thực trạng hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương từ đó, đề xuất các biện pháp cải tiến công tác quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp ở trường đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương có thể đã làm tốt công tác phân tích bối cảnh và quản lí đầu vào. Tuy nhiên, công tác này có thể còn hạn chế ở công quản lí quá trình và quản lí đầu ra.
Nếu đánh giá đúng thực trạng hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương thì người nghiên cứu có thể đề xuất được các biện pháp cấp thiết, khả thi nhằm cải tiến công tác quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: Đề tài tập trung đánh giá thực trạng quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
Về chủ thể quản lí: Chủ thể quản lí trong đề tài này là Hiệu trưởng trường Đại học Bình Dương và Giám đốc các DN.
Về khách thể khảo sát: Đề tài tiến hành khảo sát các cá nhân của NT và DN cụ thể CBQL của NT và DN, GV, cựu SV, SV.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN.
Đánh giá thực trạng quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
Đề xuất các biện pháp cải tiến công tác quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp tiếp cận
Luận văn vận dụng các phương pháp tiếp cận như:
– Tiếp cận chức năng quản lí để nâng cao chất lượng hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN hướng tới nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Bình Dương và đồng thời hướng tới cung cấp nguồn NL đã được đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và kinh doanh của DN.
– Tiếp cận mô hình CIPO để tạo ra nguồn NL phù hợp với nhu cầu DN.
– Tiếp cận thị trường để đào tạo đáp ứng nhu cầu khách hàng, nhu cầu của thị trường trên nguyên tắc cùng phát triển.
– Tiếp cận nguồn NL để đáp ứng đủ số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn NL cho các DN và khu công nghiệp.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Dùng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết trong nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài và khái quát hóa các vấn đề để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài, định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu và quá trình đánh giá thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp ở trường Đại học Bình Dương được khảo sát thông qua việc sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều tra bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu. Trong đó, phương pháp điều tra bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp chính, phương pháp khác là phương pháp hỗ trợ.
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
+ Mục đích: Mô tả và đánh giá thực trạng hoạt động quản lí liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương và thông qua việc sử dụng bảng hỏi.
+ Nội dung: Tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV, SV ở Trường Đại học Bình Dương và CBQL, cựu SV làm việc ở DN trong địa bàn tỉnh Bình Dương về quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
+ Đối tượng: Điều tra 20 CBQL, 70 GV, 70 SV ở Trường Đại học Bình Dương và 60 CBQL, 90 cựu SV làm việc ở DN trong địa bàn tỉnh Bình Dương.
+ Công cụ: Xây dựng bộ công cụ là phiếu khảo sát dùng cho các đối tượng sau: Phụ lục 1 dành cho CBQL trường đại học Bình Dương, Phụ lục 2 dành cho GV trường Đại học Bình Dương, Phụ lục 3 dành cho sinh viên trường Đại học Bình Dương, Phụ lục 4 dành cho cán bộ quản lí doanh nghiệp, Phụ lục 5 dành cho cựu sinh viên.
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
+ Mục đích: Thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp, hỏi và trả lời về quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
+ Nội dung: Tìm hiểu đánh giá chung về thực trạng quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN, đồng thời tìm hiểu, đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của một số biện pháp, ý kiến và đề xuất một số biện pháp cụ thể.
+ Đối tượng: Phỏng vấn 05 CBQL, 06 GV, 24 SV ở Trường Đại học Bình Dương và 03 CBQL, 04 CB Kỹ thuật, 10 cựu SV làm việc ở DN trong địa bàn tỉnh Bình Dương.
+ Nội dung và cách thức tiến hành: Trao đổi với CBQL Trường Đại học Bình Dương và CBQL ở DN, cựu SV để khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương. Đồng thời trao đổi với CBQL ở NT và DN, tìm hiểu đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của một số biện pháp, ý kiến đề xuất một số biện pháp cụ thể.
+ Công cụ: Biên bản phỏng vấn CBQL Trường Đại học Bình Dương, CBQL DN, cựu SV.
7.2.3 Phương pháp xử lí số liệu
7.2.3.1 Xử lí số liệu điều tra bảng hỏi
Số liệu thu được sau khảo sát thực tiễn từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, tác giả sử dụng chương trình SPSS để xử lí và phân tích thống kê nhằm đánh giá về mặt định lượng và định tính, đảm bảo độ tin cậy của các kết quả thu được. Các thông số và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận.
+ Phân tích thống kê mô tả: Các chỉ số sau được sử dụng trong phân tích thống kê mô tả: điểm trung bình cộng (Mean), độ lệch chuẩn (Std. Deviation),… Điểm trung bình (mean) được dùng trong việc tính điểm đạt được của từng nhóm mệnh đề. Độ lệch chuẩn (standardized deviation) được dùng để mô tả sự phân tán hay mức độ tập trung của các câu trả lời mẫu, nhằm đánh giá thực trạng quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
+Phân tích thống kê suy luận: Phần phân tích thống kê suy luận sử dụng các phép thống kê: so sánh giá trị trung bình (Compare means). Cách xử lí này nhằm kiểm tra tính cấp thiết và tính khả thi của một số biện pháp được đề xuất đổi mới công tác quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
7.2.3.2 Xử lí số liệu phỏng vấn
Dữ liệu phỏng vấn được tác giả ghi lại bằng văn bản, phân tích nội dung để phân loại ý, một số nội dung sẽ được trích dẫn nguyên văn trong những trường hợp cấp thiết. Thông tin phỏng vấn sẽ dùng vào việc đối chiếu, so sánh để làm rõ kết quả điều tra.
8. Ý nghĩa đóng góp của luận văn
8.1 Về mặt lí luận
Luận văn xây dựng được cơ sở lí luận về quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương hiện nay.
8.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn đánh giá được thực trạng về hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương hiện nay. Qua đó phát hiện được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức hiện nay trong hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp cho hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN nhằm giúp Trường Đại học Bình Dương nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu NL cho các DN và khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương.
9. Cấu trúc của luận văn: Luận văn gồm 3 phần
* Phần mở đầu: Lí do chọn đề tài, mục đích, khách thể, đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, phạm vi đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.
* Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN.
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
Chương 3: Giải pháp quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN ở Trường Đại học Bình Dương.
* Kết luận và khuyến nghị:
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu về hoạt động liên kết đào tạo
1.1.1.2. Nghiên cứu về hoạt động quản lí liên kết đào tạo
1.1.2. Những công trình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1. Những công trình nghiên cứu về hoạt động liên kết đào tạo
1.1.2.2. Những công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp
1.2. Các khái niệm chính
1.2.1. Quản lí
Theo từ điển giáo dục học: “quản lí là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [18, Tr 326].
Trần Kiểm: “Quản lí là hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lí, dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của hệ quản lí đến các quá trình đang diễn ra nhằm đạt mục đích đặt ra một cách tối ưu”[19, Tr 9].
Theo Trần Khánh Đức: “Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất [8, Tr 328].
Qua nghiên cứu có thể khái quát quản lí theo những khuynh hướng như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu theo quan điểm của điều khiển học và lý thuyết hệ thống. Theo đó, quản lí là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó. Quản lí là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển;
Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tư cách là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức của con người;
Thứ ba, nghiên cứu quản lí với tư cách là một quá trình trong đó các chức năng được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau. Theo hướng này, quản lí là chu trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định.
Như vậy, quá trình quản lí diễn ra các hoạt động cụ thể của chủ thể quản lí với sự tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức như dự báo, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo lãnh đạo, giám sát, kiểm tra đánh giá, trong đó các hoạt động trên đan xen nhau, tác động, bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện quá trình quản lí.
Từ những quan điểm trên, có thể thấy rằng: Quản lí là sự tác động liên tục, có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí của một tổ chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
1.2.2. Hoạt động đào tạo
Về bản chất, đào tạo là quá trình tác động tới đối tượng cụ thể thông qua cách thức, phương pháp nhất định, biến đổi đối tượng được đào tạo trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn đã đề ra. Mỗi quá trình đào tạo được hợp thành bởi các yếu tố: Đối tượng đào tạo; Mục đích đào tạo; Nội dung đào tạo; Phương pháp đào tạo; Hình thức đào tạo; CSVC thiết bị phục vụ quá trình đào tạo. Do vậy, đào tạo là bao gồm các thành tố liên quan đến quá trình đào tạo.
1.2.3. Hoạt động liên kết đào tạo
Trong xã hội không có một tổ chức nào tồn tại mà không có mối liên hệ với các tổ chức khác. Trong đào tạo, LKĐT là “một hình thức gửi SV đến thực tập tại các nhà máy, tại DN có điều kiện về trang thiết bị…”; “Là một hình thức đào tạo theo địa chỉ sử dụng, theo yêu cầu của đầu ra”[4, Tr 22 – 23]. Bộ GD&ĐT nước ta đã ban hành Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT về LKĐT trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Tại văn bản này LKĐT được hiểu là “sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các CTĐT, cấp bằng tốt nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo”[3]. LKĐT phát huy được sức mạnh tổng hợp về nguồn lực vật chất và tri thức, nó gắn kết giữa học đi đôi với hành, bởi ngay bản thân sản phẩm mà NT tạo ra chính là nguồn lực cho xã hội. Nguồn lực này có mặt trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội. LKĐT sẽ tạo ra một sức mạnh mới, một chất lượng làm việc mới cho tổ chức. Đặc biệt trong các trường đại học, tính ứng dụng thực tế là chủ yếu, chiếm khối lượng lớn tổng quỹ thời gian đào tạo. Do vậy, LKĐT sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trên các mặt:
– Hình thành kỹ năng phù hợp với yêu cầu của sản xuất: Thông qua thực hành, thực tập tại DN người học mới có điều kiện tốt nhất để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và nâng cao tính thích ứng với thực tiễn sản xuất và công việc.
– Hình thành thái độ đúng đắn trong làm việc: Qua làm việc giúp người học có thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp: ý thức phấn đấu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc; tác phong công nghiệp: tinh thần tiết kiệm, trung thực, không làm dối, làm ẩu; say mê, tâm huyết với công việc, hứng thú và yêu nghề… hình thành đạo đức nghề nghiệp.
Trong luận văn này, LKĐT được hiểu là: Hoạt động cộng đồng trách nhiệm, hợp lực ở nhiều cấp độ hoặc toàn diện giữa nhà trường và DN nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong đào tạo ở trường đại học đáp ứng đúng nhu cầu NL cho sự phát triển của DN, qua đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho DN và xã hội.
1.2.4. Quản lí hoạt động liên kết đào tạo
Khái niệm “Quản lí hoạt động liên kết đào tạo” trong luận văn là quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa NT và DN, thể hiện ở cấp độ quản lí là NT và DN – chủ thể trực tiếp quản lí LKĐT và thực hiện vai trò đồng quản lí LKĐT.
– NT và DN là những đơn vị, tổ chức có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm (theo quy định của Nhà nước và pháp luật). Nhằm tác động đến hoạt động đào tạo của NT với mong muốn thay đổi theo mục tiêu đào tạo của chủ thể quản lí.
– Hoạt động LKĐT xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của mỗi bên (DN cần NL qua đào tạo, NT cần khẳng định chất lượng đào tạo). Do đó, hoạt động LKĐT phát sinh trên cơ sở tự nguyện, đôi bên cùng có lợi. Vì vậy, quản lí LKĐT cũng cần chú ý tính phù hợp nhằm tăng hiệu quả hoạt động liên kết.
– Trong cơ chế thị trường, đối tượng tham gia LKĐT cũng thay đổi linh hoạt. Quản lí hoạt động LKĐT không nên áp đặt một chiều cũng không nên khuôn cứng trong cơ chế quản lí hành chính, sự vụ. Tính thị trường đòi hỏi mô hình quản lí phù hợp tương ứng. Tùy theo điều kiện cụ thể, các đối tác có thể lựa chọn mức độ hoạt động liên kết và quản lí hoạt động LKĐT qua từng cấp độ như: Điều tiết tác động của bối cảnh; quản lí đầu vào; quản lí quá trình; quản lí kết quả đầu ra thông qua phối hợp với chức năng cơ bản của quản lí như: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo thực hiện và Kiểm tra, đánh giá.
Như vậy, quản lí hoạt động LKĐT giữa NT và DN là quá trình giữa NT và DN quản lí hoạt động tổ chức, thực hiện hoạt động LKĐT trên cơ sở tự nguyện, chia sẻ lợi ích và đồng thuận về mục tiêu, nội dung, hình thức, mức độ, mô hình liên kết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn NL trình độ đại học góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho DN và xã hội.
1.3. Hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp
1.3.1. Một số mô hình đào tạo
Bàn về mô hình quản lí giáo dục, có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nếu Cuthbert chia mô hình thành 5 nhóm (Phân tích – hợp lí; Thực hành – hợp lí; Chính trị; Mập mờ; Hiện tượng và tương tác) thì T.Bush lại chia thành 6 nhóm (Mô hình chính thức; Mô hình tập thể; Mô hình chính trị; Mô hình chủ quan; Mô hình mập mờ; Mô hình văn hóa)[14. Tr29]. Tuy nhiên, sự thật tất yếu, mọi mô hình quản lí giáo dục của quốc gia nào cũng chịu sự chi phối của các nhân tố: Thể chế nhà nước; Cơ chế kinh tế; Truyền thống văn hóa; Trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Mô hình quản lí giáo dục, đào tạo ở Việt Nam không phải là ngoại lệ. Các mô hình: Quản lí theo chức năng; Quản lí theo mục tiêu; Quản lí theo quá trình; Quản lí theo thời gian; Quản lí kiểu tập trung; Quản lí theo CIPO… đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố trên. Về phương diện lý thuyết, mô hình nào cũng có thể áp dụng vào quản lí hoạt động LKĐT, song hiệu quả đạt được không thể tương đồng.
1.3.1.1. Mô hình quản lí liên kết đào tạo theo chức năng
NT và DN cùng thực hiện quản lí hoạt động LKĐT thông qua chu trình quản lí từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện đến kiểm tra việc thực hiện LKĐT. Hiệu quả của chu trình quản lí phụ thuộc phần lớn vào thông tin phản hồi. Quyết định quản lí đúng hay sai, kịp thời, phù hợp với thực tiễn hay không đều do thông tin chi phối. Nhờ thông tin kết nối, mọi khâu trong chu trình quản lí được liên kết tạo thành thể thống nhất. Có thể nói, thông tin là huyết mạch của quản lí.
Hình 1. 1: Mô hình quản lí liên kết đào tạo theo chức năng

Lập kế hoạch: Đây là yếu tố quan trọng, cần thiết, xác định mục tiêu, chương trình hành động, đầu vào (điều kiện, nguồn lực cần thiết) đảm bảo hoạt động LKĐT với DN được vận hành tối ưu đồng thời cũng xác định từng giai đoạn, bước đi cụ thể trong quá trình liên kết.
Tổ chức thực hiện: nhằm hiện thực hóa mục tiêu, kế hoạch LKĐT, nhất thiết phải xây dựng cơ cấu tổ chức có sự phân định rõ ràng về vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm và vị trí công tác, có kiểm tra, giám sát cụ thể.
Chỉ đạo thực hiện: Là giai đoạn hiện thực hóa kế hoạch và cơ cấu tổ chức cũng là giai đoạn khẳng định năng lực của nhà quản lí. Kỹ năng ra quyết định được xem trọng. Chỉ đạo tác động đến mọi thành viên của NT, lôi cuốn họ tham gia hoạt động LKĐT với DN thông qua việc động viên, khuyến khích, định hướng giúp họ hoàn thành nhiệm vụ, góp phần đạt được mục tiêu đã định. Nhờ chỉ đạo, hoạt động hợp tác với DN đào tạo nguồn NL chất lượng cao được bảo đảm trong thực tế.
Kiểm tra thực hiện: Có thể coi kiểm tra như một hệ thống phản hồi nhằm xác định các sai lệch, phân tích, điều chỉnh, hướng hoạt động LKĐT với DN đạt kết quả mong muốn. Kiểm tra là quyền lực của nhà quản lí, không có kiểm tra, hoạt động không theo đúng quỹ đạo, mục tiêu mong muốn không đảm bảo. Người quản lí xác định những tiêu chí, chuẩn mực cần đạt, kiểm tra, giám sát, đối chiếu, đo lường kết quả theo tiêu chí đã định, điều chỉnh sai lệch, hiệu chỉnh hoặc bổ sung tiêu chí sát với hoạt động thực tế. Bốn chức năng quản lí trên gắn bó chặt chẽ, đan xen lẫn nhau thông qua Thông tin – huyết mạch của hoạt động quản lí – và cùng điều tiết quản lí hoạt động LKĐT từ đầu vào đến quá trình, kiểm soát kết quả đầu ra. Tuy nhiên, đây là mô hình quản lí “cứng”, thuần “chức năng”.
1.3.1.2. Mô hình quản lí theo quá trình đào tạo
Theo tiêu chuẩn ISO 9000, quá trình (process) là tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác để biến đổi “đầu vào” thành “đầu ra”. Quá trình mô tả rõ quan hệ đầu vào – đầu ra và sự tương tác giữa các hoạt động. Trong quản lí hoạt động LKĐT, quản lí theo quá trình cho phép tiếp cận các khâu đào tạo theo hàng ngang từ “đầu vào” (tuyển sinh, nguồn lực) tới “đầu ra” (chất lượng, hiệu quả đào tạo). Điểm kết thúc của quá trình này cũng là điều kiện tác động đến điểm khởi đầu của quá trình mới. Tuy nhiên, quản lí theo quá trình chưa chú ý nhiều tới bối cảnh tác động và có khuynh hướng khuôn trong một phạm vi nhất định. Do vậy, khả năng thích ứng nhanh trong điều kiện KT – XH nhiều biến động hiện nay còn hạn chế, đặc biệt trong quan hệ LKĐT giữa NT với DN.
Hình 1. 2: Quản lí liên kết đào tạo theo quá trình
QUẢN LÍ
ĐẦU VÀO
- Tài lực
- Thiết bị
- Tuyển sinh
- Công nghệ
- Chính sách
- Trợ giúp
- khác
QUẢN LÍ
QUÁ TRÌNH
ĐÀO TẠO
- Môi trường
- Cách tổ chức
- Nội dung
- Phương pháp
- …
QUẢN LÍ KẾT QUẢ ĐẦU RA
- Thành tích học tập
- Mức độ hài lòng
- Chất lượng thực hiện
Nguồn:[9, tr 448]
1.3.1.3. Mô hình quản lí theo mục tiêu
Quản lí theo mục tiêu (MBO – Management By Objectives) được Peter Drucker mô tả lần đầu tiên vào năm 1954 trong tác phẩm “Quản trị thực hành”. MBO quản lí thông qua việc xác định mục tiêu cho từng đối tượng, so sánh, hướng hoạt động của đối tượng thực hiện thành công mục tiêu tổ chức đã định. Do vậy, tinh thần của MBO là: Tập trung vào mục tiêu; Dựa trên nguồn tài nguyên có sẵn; Giúp đối tượng hiểu rõ mục tiêu cá nhân và tổ chức cần đạt được; Đánh giá hiệu quả.
Hình 1. 3: Mô hình quản lí liên kết đào tạo theo mục tiêu

Nguồn: Peter Drucker, 1959
Quản lí theo mục tiêu phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của các đối tác tham gia trong việc thiết lập mục tiêu. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của MBO là sự thay đổi của môi trường, là hệ thống kiểm soát. Nếu hệ thống kiểm soát không chặt chẽ, không tương ứng sẽ phát sinh nhiều lỗ hổng. Hơn nữa, LKĐT giữa NT với DN chịu tác động sâu sắc của cơ chế thị trường và vận động theo quy luật thị trường. Đây là yếu tố cần cân nhắc khi quyết định áp dụng mô hình MBO trong quản lí LKĐT.
1.3.1.4. Mô hình quản lí theo CIPO
Quản lí theo mô hình CIPO được UNESCO đưa ra vào năm 2000. Về bản chất, mô hình CIPO là một dạng của mô hình quá trình quản lí chất lượng đào tạo, cũng được bắt đầu từ “đầu vào” đến “quá trình” và “đầu ra”. Tuy nhiên, mô hình CIPO quan tâm nhiều tới “bối cảnh” và coi “bối cảnh” là một trong bốn thành tố cơ bản.
Hình 1. 4: Mô hình quản lí liên kết đào tạo theo CIPO

Nguồn:[8, tr 460]
Theo mô hình CIPO, quản lí LKĐT được xây dựng dựa trên hoạt động quản lí bốn thành tố: C – Context: Điều tiết tác động của bối cảnh; I – Input: Quản lí đầu vào; P – Process: Quản lí quá trình; O – Output: Quản lí kết quả đầu ra.
1.3.2. Hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp
1.3.2.1. Hoạt động liên kết trong tuyển sinh
Tuyển sinh là một trong những vấn đề khá nan giải đối với nhóm trường đại học tư thục. Thông thường, để thu hút người học, các trường đại học tư thục đã tận dụng thế mạnh của phương tiện truyền thông, chương trình quảng cáo hoặc các trang web… Tuy nhiên, những hình thức đó chưa đảm bảo nguồn tuyển sinh bền vững cũng như tiềm ẩn khá nhiều “rủi ro”. Nếu NT LKĐT với DN thì hiệu quả tuyển sinh sẽ được cải thiện hơn với các hình thức liên kết trong tuyển sinh giữa NT với DN:
NT đào tạo theo đơn đặt hàng từ DN (tức là DN “gửi đơn hàng” tới NT yêu cầu đào tạo lực lượng lao động có trình độ, kỹ năng đáp ứng vị trí làm việc tại DN sau tốt nghiệp). Căn cứ vào “đơn hàng”, NT chủ động thực hiện kế hoạch tuyển sinh có sự tham gia từ phía DN. DN cử cán bộ tư vấn nghề nghiệp cùng cán bộ tư vấn tuyển sinh của NT tới các trường THPT, TTGDTX tư vấn hướng nghiệp cho học sinh.
NT đào tạo học viên do DN gửi đến. Ở hình thức này, DN chủ động tuyển sinh với số lượng, cơ cấu nhất định theo yêu cầu phía DN. NT giữ vai trò đào tạo, cấp bằng tốt nghiệp và đảm bảo số học viên này thích ứng ngay với vị trí làm việc tại DN.
NT liên kết với DN cùng thực hiện chiến dịch tuyển sinh, tạo nguồn NL tiềm năng, sẵn sàng bù đắp vị trí khuyết, thiếu trong chiến lược phát triển của DN. Hình thức này đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên trách của NT và DN cùng liên kết hoạch định kế hoạch, xác định ngành, nghề, số lượng cần tuyển và phương thức tuyển sinh.
Cần lưu ý, việc tuyển sinh phải tiến hành theo đúng quy trình, thủ tục tuyển sinh. Hiện tại, trường Đại học Bình Dương lựa chọn hình thức xét tuyển. Do vậy, DN và NT cần tập trung xây dựng những tiêu chí cụ thể đảm bảo công tác xét tuyển công bằng, công khai, đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia hoạt động liên kết. Bên cạnh đó, để đảm bảo chất lượng đào tạo, NT và DN cùng phối hợp xây dựng chuẩn đầu ra cho các ngành đào tạo. Đây được coi là thước đo đánh giá chất lượng đào tạo. Chuẩn đầu ra phải bao quát được chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và kỹ năng mềm cần thiết.
1.3.2.2. Hoạt động liên kết trong quá trình đào tạo
Mục tiêu đào tạo chính là sản phẩm, kết quả của quá trình đào tạo. Mục tiêu đào tạo là “nhân cách người học tốt nghiệp đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo”. Mục tiêu đào tạo đại học cần được xác định rõ ràng theo hướng “đào tạo ra cử nhân, kĩ sư thực hành và nghiên cứu ứng dụng”. Do vậy, mục tiêu trong LKĐT với DN phải được xác định trên cơ sở đào tạo nguồn NL có đạo đức nghề nghiệp, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe, năng lực và kỹ năng sống cần thiết đáp ứng yêu cầu xã hội về NL có trình độ.
DN cần cung cấp thông tin về những yêu cầu đặt ra đối với nguồn NL bậc đại học, trên cơ sở đó, NT tiến hành xây dựng mục tiêu cụ thể đối với từng ngành, nghề đào tạo.
Tóm lại, mục tiêu đào tạo được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích những yêu cầu của DN, nhu cầu phát triển KT – XH, công việc, trình độ tương ứng và khả năng của NT.
Nội dung chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên yêu cầu thực tế về ngành nghề DN cần, với định hướng “đào tạo thật tốt những năng lực thực hành cốt yếu cho người học để đáp ứng yêu cầu sử dụng của DN”. Căn cứ vào khung chương trình, vào chuẩn đầu ra của ngành đào tạo, trường đại học và DN xác định nội dung cụ thể cần được đào tạo theo từng ngành, nghề, môn học, thống nhất phân bổ nội dung chương trình theo hướng: tiếp cận thị trường, tiếp cận mục tiêu. Hướng tiếp cận này đòi hỏi phải có sự tham gia của DN với tư cách người sử dụng lao động, đồng thời cho phép kế hoạch chương trình đào tạo gắn kết với yêu cầu sử dụng, tạo điều kiện cho người học phát triển năng lực thực hành, thuận lợi trong tìm việc làm sau tốt nghiệp.
Yêu cầu: nội dung chương trình đào tạo phải có tính linh hoạt, thích ứng nhanh với xu thế thay đổi của xã hội. Do đó, không thể áp dụng giá trị bất biến để xác định hay đo lường sự vận động, biến đổi. Mặt khác, nội dung chương trình phải có tính khoa học, tính lôgic và cập nhật thường xuyên những thay đổi của khoa học, công nghệ. Với tư cách đồng chủ thể thực hiện LKĐT, DN kết hợp với NT cùng xây dựng nội dung chương trình đào tạo theo tiêu chí: đáp ứng yêu cầu DN là chính có phối hợp các kênh thông tin đại chúng, nguồn tài liệu tham khảo và các vấn đề thực tế ngành nghề đang diễn ra.
1.3.2.3. Hoạt động liên kết đảm bảo các nguồn lực cho đào tạo
a. Liên kết đảm bảo nguồn NL
Nguồn NL trong LKĐT giữa trường đại học với DN gồm: GV, chuyên gia, CBKT, CBQL phía NT và DN. Đây là đội ngũ trực tiếp tham gia vào hoạt động LKĐT, hiện thực hóa, quyết định mức độ thành công của LKĐT. Do vậy, đối với NT, cần xây dựng đội ngũ GV đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng (chuẩn về trình độ chuyên môn; chuẩn về nghiệp vụ; chuẩn về đạo đức – tư cách nghề nghiệp), đồng bộ về cơ cấu. Đối với DN, đội ngũ chuyên gia tham gia hoạt động giảng dạy phải đảm bảo các tiêu chí: trình độ chuyên môn; có phẩm chất tư cách đạo đức; nhiệt tình, có trách nhiệm với công việc được giao. Căn cứ vào tính chất, điều kiện thời gian, vị trí công tác, có thể yêu cầu: GV của NT tham gia giảng dạy lý thuyết chuyên môn với vai trò GV lý thuyết, hướng dẫn thực hành cơ bản; chuyên gia của DN tham gia giảng dạy thực hành, hướng dẫn thực tập với vai trò GV thực hành.
b. Liên kết đảm bảo tài chính, các điều kiện CSVC
Tài chính đảm bảo hoạt động LKĐT gồm: Học phí, các nguồn thu và hỗ trợ khác. Ngoài ra, DN có trách nhiệm đầu tư, đóng góp một phần tài chính – phí hỗ trợ đào tạo nguồn NL (nguồn kinh phí này được coi như nguồn kinh phí bắt buộc DN phải thực hiện khi sử dụng lao động đã qua đào tạo). Trên thế giới, nhiều quốc gia đã ban hành các văn bản quy định trách nhiệm của DN thông qua thuế đào tạo như: Pháp – mức đóng góp 0,5% quỹ lương; Các nước Mỹ Latinh, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan… – mức đóng góp 1% quỹ lương đối với những DN không tham gia hoạt động LKĐT.
CSVC, thiết bị nhà xưởng ảnh hưởng không nhỏ tới kỹ năng thực hành của SV, là một trong những yếu tố quyết định hình thành kỹ năng thực hành, có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người học trong tương lai. Thông qua LKĐT, DN có thể hỗ trợ NT CSVC phục vụ trực tiếp đào tạo (thiết bị dạy học), khắc phục tình trạng thiếu trang thiết bị thực hành, tình trạng trang thiết bị thực hành lạc hậu, lỗi thời không theo kịp bước tiến của khoa học công nghệ.
Tuy nhiên, để DN sẵn sàng hỗ trợ máy móc, thiết bị sản xuất làm công cụ thực tập cho SV, rất cần có chính sách huy động CSVC, thiết bị nhà xưởng phục vụ cho LKĐT, và chính sách miễn trừ khoản thuế đào tạo cho các DN trên.
1.3.2.4. Hoạt động liên kết đổi mới phương pháp dạy và học, thực hành và thực tập
Khi mục tiêu, nội dung chương trình thay đổi, tất yếu phương pháp đào tạo, đặc biệt phương pháp giảng dạy cũng thay đổi. Trong LKĐT cần đổi mới phương pháp giảng dạy tăng cường phát triển năng lực thực hiện thông qua thực hành, thực tập DN. GV trường đại học kết hợp chặt chẽ với chuyên gia có chuyên môn cao của các DN cùng tiến hành đổi mới hoạt động giảng dạy.
Phương pháp giảng dạy thay đổi, phương pháp học của SV cũng thay đổi. Do đó, SV phải chủ động, tích cực thực hiện vai trò trung tâm của quá trình giảng dạy. Chú trọng việc tự học, tự nghiên cứu, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
LKĐT giữa trường đại học với DN cho phép người học tiếp cận sự đa dạng trong phương pháp dạy lý thuyết tại NT, thực hành tại DN, tiếp cận những trải nghiệm công việc thực tế ở DN, phân tích, lựa chọn cách học hiệu quả, học trong thực tế và từ thực tế.
1.3.2.5. Hoạt động liên kết đổi mới kiểm tra đánh giá
Kiểm tra, đánh giá không chỉ nhằm thẩm định chất lượng hoạt động LKĐT mà còn là sự kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình. Mục đích: Xem xét hoạt động của NT và DN có phù hợp với mục tiêu đã định hay không; Xem xét những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân để kịp thời điều chỉnh; Đánh giá tình hình cụ thể và sự tương ứng với nguồn lực hiện tại; Phát hiện những nhân tố mới, khả năng tiềm tàng của tổ chức. Đổi mới nội dung kiểm tra, bổ sung tiêu chí đánh giá trên cơ sở yêu cầu công việc thực tế tại DN.
Hình thức thực hiện: Trường Đại học và DN cùng phối hợp kiểm tra, đánh giá, công nhận tốt nghiệp cho SV. Đặc biệt đối với công tác đánh giá tốt nghiệp, cần chú trọng đánh giá kỹ năng thực hành, có thể thực tế qua hình thức tổ chức thi thực hành tại chính DN. Hội đồng đánh giá gồm cán bộ GV của NT và chuyên gia của DN.
1.3.2.6. Hoạt động liên kết đảm bảo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp
Công tác hướng nghiệp gồm ba bộ phận cấu thành, được nhà tâm lý học Xô viết K.K. Platonov khái quát bằng “Tam giác hướng nghiệp” gồm các thành tố: Định hướng nghề nghiệp, tuyển chọn nghề nghiệp và tư vấn nghề nghiệp được quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện hướng nghiệp.
Tư vấn nghề nghiệp là một phần quan trọng trong giáo dục nghề nghiệp, giúp SV lựa chọn ngành nghề phù hợp với bản thân và nhu cầu của TTLĐ, giúp SV đáp ứng yêu cầu việc làm và TTLĐ trong thời kỳ hội nhập quốc tế, gắn chặt chẽ với quá trình lao động nghề nghiệp thực tế và công việc sau này của SV. Nội dung tư vấn ngành nghề gồm: Tư vấn phương pháp học tập, Tư vấn trang bị các kỹ năng cần thiết cho công việc trong tương lai, Định hướng ngành nghề tương lai và con đường lập nghiệp.
Chất lượng đào tạo hội tụ trong người lao động qua phẩm chất, nhân cách, năng lực chuyên môn tương ứng với mục tiêu đào tạo, đặc biệt là năng lực làm việc tại các DN, cơ quan, tổ chức. Chất lượng NL phản ánh kết quả quá trình đào tạo đồng thời thể hiện khả năng hoạt động nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu việc làm. Đảm bảo chất lượng NL sau LKĐT cần xác định từ định hướng “kết quả đầu ra” trong quá trình đào tạo. Có nghĩa là: người học có thể làm được “một cái gì đó” và có khả năng làm tốt “cái gì đó” sau thời gian học. Yêu cầu này đòi hỏi người học phải được coi trọng và được coi là trung tâm điểm của hoạt động LKĐT. “Kết quả đầu ra” chủ yếu được xem xét dựa trên các yếu tố: Kết quả tốt nghiệp (output) và kết quả việc làm sau tốt nghiệp (Outcome)
Kết quả tốt nghiệp (output) được xác định thông qua số lượng và chất lượng SV được đánh giá theo các chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ sau quá trình đào tạo. Kết quả tốt nghiệp cho phép khẳng định chất lượng đào tạo. Kết quả việc làm sau tốt nghiệp (Outcome) được xem xét qua các tiêu chí: thời gian SV có việc làm lần đầu, mức độ phù hợp giữa việc làm và trình độ, ngành nghề được đào tạo, việc làm có khả năng phát triển hay không. Kết quả việc làm sau tốt nghiệp cho phép đánh giá hiệu quả LKĐT.
Bàn về việc làm, đây là một khái niệm rộng bao gồm các tiêu chí như: hoạt động tạo ra thu nhập chính đáng; hoạt động có ích; hoạt động không bị pháp luật cấm. Việc làm là những hoạt động có ích của con người được xã hội thừa nhận và tạo ra thu nhập tài chính nhất định. Tuy nhiên, việc làm đối với lao động đã qua đào tạo được xác định có hiệu quả, có tác dụng thúc đẩy KT – XH phát triển phải là việc làm phù hợp với chuyên ngành, trình độ được đào tạo. Do đó, để tránh thất thoát nguồn lực XH, khẳng định vị trí thương hiệu NT, NT đã thiết lập hệ thống thông tin về việc làm và hỗ trợ giải quyết việc làm thông qua việc xây dựng văn phòng tư vấn ngành nghề và tư vấn việc làm. Công việc này đòi hỏi NT phải phối hợp chặt chẽ với DN, giới thiệu cơ hội việc làm cho SV. Ngoài ra, NT có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nguồn quỹ để xây dựng mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết việc làm cho người lao động. Kết quả việc làm sau tốt nghiệp được xem xét qua các nhân tố như: Thời gian có việc làm, việc làm đúng ngành nghề, đúng trình độ… Việc đáp ứng kết quả việc làm chính là hiệu quả của quá trình LKĐT.
1.4. Quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình CIPO
Mô hình CIPO được vận dụng trong quản lí hoạt động liên kết đào tạo và điều tiết các yếu tố tác động từ môi trường lên hoạt động đào tạo để hướng tới chất lượng đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn của DN.
Để quản lí đào tạo hướng tới chất lượng cần quản lí các yếu tố tác động của bối cảnh, đầu vào, quản lí quá trình thực hiện đến quản lí các yếu tố đầu ra với phạm vi rộng và đa dạng như các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách, môi trường phát triển kinh tế – xã hội (tiến bộ KHCN, hội nhập quốc tế, đối tác cạnh tranh, đầu tư cho GDĐH…).LIỆN HỆ:
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\THAY HOANG DHSP\K38BD_LUAN VAN SAU BAO VE\K38BD_LUAN VAN SAU BAO VE\5. NGUYEN THANH HIEP


