1.1. Với xu thế hội nhập toàn cầu của các nước đang phát triển, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội; tác động đến tất cả lĩnh vực của xã hội đặc biệt nổi bật là sự phát triển của giáo dục. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vừa tạo ra quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh gay gắt của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo tồn bản sắc văn hoá và truyền thống của các dân tộc. Hầu hết các quốc gia đều có quan điểm chung: nguồn lực con người là nhân tố quan trọng nhất và giáo dục là con đường cơ bản để phát huy nguồn lực con người, phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững của mọi quốc gia.
Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư (khóa IX) về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và viên chức quản lý giáo dục đã nêu rõ giáo dục Việt Nam trong hoàn cảnh mới của đất nước, cũng như bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi đòi hỏi phải: “xây dựng đội ngũ nhà giáo và viên chức quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. [1; tr1]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế khẳng định: “cần có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và viên chức quản lý giáo dục; việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và viên chức quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác”. Để có một nhà trường phát triển toàn diện, thực hiện tốt và đạt được các mục tiêu giáo dục thì cần có một người quản lý giỏi. Người quản lý nhà trường cần phải có đầy đủ về năng lực quản lý, năng lực chuyên môn, sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân và đặc biệt là sự năng động, sáng tạo, nhiệt tình và đầy trách nhiệm.
Trước những yêu cầu phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ thì tất yếu phải tập trung vào “Phát triển đội ngũ giáo viên và viên chức quản lý giáo dục, đào tạo” Trong đó quan tâm xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dường đội ngũ nhà giáo và viên chức quản lý (VCQL) giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế là giải pháp tối ưu.
Đặc biệt đội ngũ VCQL còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Từ những điểm khác biệt của chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đòi hỏi người VCQL phải đổi mới công tác quản lý nhằm đánh giá được những thuận lợi, khó khăn về năng lực quản lý, kỹ năng lãnh đạo, khả năng tiếp cận thông tin và các giải pháp phát triển.
1.2. Trong quá trình công tác, tham mưu về đội ngũ VCQL của ngành giáo dục huyện Núi Thành trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã có bước phát triển không ngừng. Các cấp ủy đảng, chính quyền luôn quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Núi Thành luôn bám sát chủ trương, đường lối công tác viên chức của Đảng, có sự vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn của địa phương. Do đó, đội ngũ VCQL giáo dục nhất là đội ngũ VCQL các trường TH và THCS có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ VCQL các trường TH và THCS của huyện vẫn còn những hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn về xây dựng và phát triển của Huyện, nhất là đảm bảo theo chuẩn hiệu trưởng mà ngành giáo dục đề ra. Trong đó, có một số vấn đề cấp thiết cần sớm có biện pháp giải quyết như tuổi cao, chưa đáp ứng về trình độ đào tạo theo Luật Giáo dục năm 2019, chưa qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác quản lý. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng viên chức; công tác bổ nhiệm, luân chuyển, tạo nguồn viên chức kế cận chưa được quan tâm đúng mức, thực hiện chưa thật sự đồng bộ.
1.3. Để đạt mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo của huyện nói chung và chất lượng đội ngũ VCQL các trường TH và THCS nói riêng, cần phải có các biện pháp phát triển đội ngũ VCQL các trường TH và THCS phù hợp với lý luận và thực tiễn. Như vậy, việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ VCQL các trường TH và THCS ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam để đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng và mang tính cấp thiết.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nói chung, phát triển đội ngũ VCQL cơ sở giáo dục nói riêng. Các công trình đó đã được vận dụng vào thực tiễn và đã mang lại một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về các biện pháp phát triển đội ngũ VCQL các trường TH và THCS huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam theo chuẩn hiệu trưởng.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển đội ngũ viên chức quản lý các trường TH và THCS huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam theo chuẩn hiệu trưởng” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý giáo dục.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng đội ngũ VCQL đề tài đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ VCQL các trường TH và THCS của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam theo chuẩn hiệu trưởng nhằm phát huy năng lực quản lý của đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phù hợp với xu thế phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ viên chức quản lý trường TH và THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển đội ngũ VCQL các trường TH và THCS huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông.
Đội ngũ VCQL các trường TH và THCS ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam sẽ phát triển một cách đồng bộ và bền vững, đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước, sự phát triển của giáo dục và đào tạo nói chung và của giáo dục TH và THCS nói riêng nếu huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam áp dụng có hiệu quả các biện pháp phát triển đội ngũ VCQL giáo dục như: xây dựng quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng; thanh tra, kiểm tra và đánh giá đội ngũ viên chức QLGD; lựa chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm và luân chuyển viên chức QLGD gắn với thực hiện các chương trình, mục tiêu phát triển KT- XH của huyện giai đoạn 2020- 2025.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ VCQL trường TH và THCS theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ VCQL trường TH và THCS của huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam.
5.3. Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ VCQL trường TH và THCS huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông cho Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.1.1. Nghiên cứu văn kiện, văn bản, tài liệu
Để có cơ sở lý luận, làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài tôi tiến hành thu thập, phân tích tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu. Cụ thể nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển GDĐT ở giai đoạn hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ GDĐT, các tài liệu khoa học, sách, giáo trình về quản lý giáo dục, quản lý bồi dưỡng đội ngũ viên chức quản lý trường TH và THCS.
6.1.2. Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Tổng hợp, phân tích các giáo trình quản lý giáo dục, tâm lý học của quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học Sư phạm Hà Nội…; Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông và nghiên cứu các luận án, luận văn có liên quan đến phát triển đội ngũ viên chức quản lý các trường TH và THCS.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng bảng hỏi, phiếu điều tra (dựa trên các chức năng của quản lý giáo dục và các nội dung quản lý cơ bản về quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá và việc thực hiện chế độ chính sách theo chuẩn được ban hành trong “Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông”.
Cách thức thực hiện: Tiến hành phát phiếu trưng cầu ý kiến, phiếu thăm dò cho 150 VCQL, GV trên địa bàn huyện.
6.2.2. Tham khảo ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia, các cán bộ có nhiều kinh nghiệm về công tác tổ chức cán bộ và các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục bậc Tiểu học.
6.2.3. Phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Phân tích và tổng kết kinh nghiệm nhằm đánh giá thực trạng đội ngũ VCQL đã đạt được những tiêu chuẩn, tiêu chí nào; Những tiêu chuẩn tiêu chí nào cần phải đào tạo bồi dưỡng, nguyên nhân nào ảnh hưởng đến việc thiếu hụt các tiêu chuẩn tiêu chí; từ đó đề xuất các biện pháp liên quan đến công tác quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ VCQL.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số thuật toán thống kê toán học để tổng hợp, xử lý các kết quả nghiên cứu, làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá một cách chính xác khách quan vấn đề nghiên cứu.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc phát triển đội ngũ VCQL là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường TH và THCS của Phòng GD-ĐT huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Khảo sát thực trạng biện pháp phát triển đội ngũ VCQL trường TH và THCS ở huyện Núi Thành giai đoạn 2015 – 2020.
Chủ thể quản lý: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Khách thể khảo sát là viên chức quản lý, GV các trường TH và THCS, lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ viên chức quản lý trường TH và THCS theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông.
Chường 2: Thực trạng phát triển đội ngũ viên chức quản lý các trường TH và THCS huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông.
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ viên chức quản lý các trường TH và THCS huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC QUẢN LÝ
TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHUẨN
HIỆU TRƯỞNG CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
1.2. Các khái niệm chính của đề tài
Theo Từ điển Tiếng Việt, “quản lý” được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”.
Quản lý là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành những hoạt động theo chức năng quản lý như xác định mục tiêu, hoạch định các chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp, kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực…để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định.
Trong cuốn ” Lý luận quản lý nhà nước” của tác giả Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối” .
Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được thành công theo ý muốn.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu. Đó là “bí quyết” làm việc của người quản lý được khám phá trên sự đúc rút kinh nghiệm thực tế. Những kinh nghiệm thực tế được khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó chính là khoa học – khoa học quản lý. Do đó, ta có thể nói rằng: Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên.
- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như: Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe…, vừa có thể là sự việc như: luật lệ, quy chế, quy định…Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý.
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động. Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế đúng.
Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý. Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể quản lý.
Sau khi nghiên cứu, tổng kết các nhà nghiên cứu cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản, là 4 khâu liên quan mật thiết với nhau, đó là:
Kế hoạch hoá: Là làm cho việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng, quy mô lớn. Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục đích, xác định những biện pháp trong thời kỳ nhằm đạt mục tiêu dự định.
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp điều phối các nguồn lực, vật lực, nhân lực.
Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý. Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, hay một nhóm tổ chức để xem xét thực tế, theo dõi, giám sát thành quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai. Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động quản lý.
Với các chức năng đó, quản lý có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Nó nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển.
KẾ HOẠCH
TỔ CHỨC
CHỈ ĐẠO
KIỂM TRA
THÔNG TIN
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn ra, quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được thực hiện (vận hành và phát triển). Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều kiện, phương tiện quản lý. Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực). Còn hiệu quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển đồng thời phẩm chất, năng lực của nhà quản lý cũng phát triển.
Tóm lại: Quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với các quy luật khách quan.
Theo tác giả Trần Kiểm, quản lí giáo dục cũng có nhiều khái niệm khác nhau. Dưới đây chỉ nêu một vài quan niệm được coi là phù hợp:
– Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.
– Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động.
– Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội.
– Theo M.I.Kônzacôv: “Quản lí giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của XH cũng như những qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”.
– Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy – học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Theo tác giả Bùi Minh Hiền “Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của quản lí xã hội. Quản lí giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là quản lí mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Quá trình đó bao gồm các hoạt động mang tính giáo dục của bộ máy Nhà nước, của các tổ chức xã hội, của Hệ thống giáo dục quốc dân, của mọi gia đình”.
Theo tác giả Trần Kiểm quản lí giáo dục được chia thành hai cấp độ là vĩ mô và vi mô. Quản lí giáo dục cấp vĩ mô là quản lí nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục. Quản lí vi mô là quản lí nhà trường .
Quản lí giáo dục vĩ mô là tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích hệ thống nhằm thực hiện chất lượng hiệu quả để đạt mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Quản lí giáo dục vi mô là những tác động tự giác của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường.
Theo tác giả Bush T. “ Quản lí giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lí giáo dục tới đối tượng quản lí giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”.
Như vậy, Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí giáo dục đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ thực hiện quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến.
Tại Điều 3, Luật Viên chức số 58/2010/QH12, ngày 15/11/2010 có nêu: Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. [24; tr1]
Như vậy có thể nói viên chức quản lý là viên chức được giao nhiệm vụ cụ thể thông qua bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo quản lý một tổ chức, đơn vị, hay một lĩnh vức cụ thể nào đó. Viên chức được giao nhiệm vụ quản lý phải đạt một số điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chức vụ quản lý. Theo quy định hiện hành viên chức quản lý các trường Tiểu học và Trung học sơ sở là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng. Đó là các giáo viên đạt tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của Điều lệ trường Tiểu học, Trung học cơ sở và quy định của Luật viên chức.
Xây dựng đội ngũ viên chức quản lý: Với ý nghĩa chung nhất, xây dựng đội ngũ viên chức quản lý là xây dựng con người, đó là những con người được giao một chức vụ cụ thể nào đó trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Nghĩa hẹp hơn, xây dựng đội ngũ viên chức quản lý trường học là xây dựng nguồn lực con người trong ngành giáo dục. Đào tạo đội ngũ giáo viên có năng lực lao động, làm cho mỗi người tự tạo và phát triển bản thân, hoàn thiện mình, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Xây dựng đội ngũ viên chức quản lý để đội ngũ đó được biến đổi theo chiều hướng đi lên, xây dựng đội ngũ về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu. Đó là quá trình xây dựng đội ngũ có trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, năng lực quản lý, đòi hỏi những người có phẩm chất tốt, trí tuệ cao, tay nghề thành thạo.
1.2.4. Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông
Tại Điều 3 trong Quy định về Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông (Ban hành kèm theo Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) [3; tr2] có nêu: Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông là hệ thống phẩm chất, năng lực mà hiệu trưởng cần đạt được để lãnh đạo và quản trị nhà trường. Chuẩn hiệu trưởng gồm 5 tiêu chuẩn với 18 tiêu chí.
– Phẩm chất là tư tưởng, đạo đức, lối sống của hiệu trưởng trong thực hiện công việc, nhiệm vụ.
– Năng lực là khả năng thực hiện công việc, nhiệm vụ của hiệu trưởng.
– Tiêu chuẩn là yêu cầu về phẩm chất, năng lực ở từng lĩnh vực của chuẩn hiệu trưởng.
– Tiêu chí là yêu cầu về phẩm chất, năng lực thành phần của tiêu chuẩn.
1.2.4.1. Nội dung đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông
Chuẩn hiệu trưởng được quy định tại Thông tư 14/2018, cụ thể như sau:
Điều 4. Tiêu chuẩn 1. Phẩm chất nghề nghiệp
Có đạo đức nghề nghiệp chuẩn mực và tư tưởng đổi mới trong lãnh đạo, quản trị nhà trường; có năng lực phát triển chuyên môn, nghiệp vụ bản thân.
- Tiêu chí 1. Đạo đức nghề nghiệp
- Mức đạt: thực hiện tốt quy định về đạo đức nhà giáo; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy định về đạo đức nhà giáo trong nhà trường;
- Mức khá: chỉ đạo phát hiện, chấn chỉnh kịp thời các biểu hiện vi phạm đạo đức của GV, nhân viên, học sinh; chủ động sáng tạo trong xây dựng các nội quy, quy định về đạo đức nhà giáo trong nhà trường;
- Mức tốt: có ảnh hưởng tích cực tới VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường.
- Tiêu chí 2. Tư tưởng đổi mới trong lãnh đạo, quản trị nhà trường
- Mức đạt: có tư tưởng đổi mới trong lãnh đạo, quản trị nhà trường nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho tất cả học sinh;
- Mức khá: lan tỏa tư tưởng đổi mới đến mọi thành viên trong nhà trường;
- Mức tốt: có ảnh hưởng tích cực tới VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về tư tưởng đổi mới trong lãnh đạo, quản trị nhà trường.
- Tiêu chí 3. Năng lực phát triển chuyên môn, nghiệp vụ bản thân
- Mức đạt: đạt chuẩn trình độ đào tạo và hoàn thành các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định; có kế hoạch thường xuyên học tập, bồi dưỡng phát triển chuyên môn, nghiệp vụ bản thân; cập nhật kịp thời các yêu cầu đổi mới của ngành về chuyên môn, nghiệp vụ;
- Mức khá: đổi mới, sáng tạo trong việc vận dụng các hình thức, phương pháp và lựa chọn nội dung học tập, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ bản thân;
- Mức tốt: hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về phát triển chuyên môn, nghiệp vụ bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Điều 5. Tiêu chuẩn 2. Quản trị nhà trường
Lãnh đạo, quản trị các hoạt động trong nhà trường đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, phù hợp với phong cách học tập đa dạng, nhu cầu, sở thích và mức độ sẵn sàng học tập của mỗi học sinh.
- Tiêu chí 4. Tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường
- Mức đạt: tổ chức xây dựng kế hoạch, hướng dẫn thực hiện và giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường; chỉ đạo tổ chuyên môn và GV, nhân viên xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ theo quy định;
- Mức khá: đổi mới, sáng tạo trong xây dựng kế hoạch, hướng dẫn tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường và kế hoạch của tổ chuyên môn, GV, nhân viên;
- Mức tốt: hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về xây dựng kế hoạch, hướng dẫn tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường.
- Tiêu chí 5. Quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục của nhà trường, tổ chức thực hiện dạy học và giáo dục học sinh; đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục học sinh; đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh theo yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh của chương trình giáo dục phổ thông;
- Mức khá: đổi mới quản trị hoạt động dạy học và giáo dục học sinh hiệu quả; đảm bảo GV sử dụng các phương pháp dạy học, giáo dục phù hợp với phong cách học tập đa dạng, nhu cầu, sở thích và mức độ sẵn sàng học tập của mỗi học sinh; kết quả học tập, rèn luyện của học sinh được nâng cao;
- Mức tốt: hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về quản trị hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.
- Tiêu chí 6. Quản trị nhân sự nhà trường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng đề án vị trí việc làm; chủ động đề xuất tuyển dụng nhân sự theo quy định; sử dụng GV, nhân viên đúng chuyên môn, nghiệp vụ; chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV, nhân viên, năng lực quản trị nhà trường cho ĐN VCQL và ĐN thuộc diện quy hoạch các chức danh hiệu trưởng, phó hiệu trưởng của nhà trường theo quy định;
- Mức khá: sử dụng GV, nhân viên đúng chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo tinh gọn, hiệu quả; đánh giá năng lực ĐN, tạo động lực và tổ chức bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp thường xuyên cho GV, năng lực quản trị nhà trường cho ĐN VCQL và ĐN thuộc diện quy hoạch các chức danh hiệu trưởng, phó hiệu trưởng của nhà trường có hiệu quả;
- Mức tốt: hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về quản trị nhân sự trong nhà trường.
- Tiêu chí 7. Quản trị tổ chức, hành chính nhà trường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định cụ thể về tổ chức, hành chính trong nhà trường; thực hiện phân công, phối hợp giữa các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các bộ phận khác thực hiện nhiệm vụ theo quy định;
- Mức khá: sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả; phân cấp, ủy quyền cho các bộ phận, cá nhân trong nhà trường để thực hiện tốt nhiệm vụ;
- Mức tốt: tin học hóa các hoạt động quản trị tổ chức, hành chính của nhà trường; hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về quản trị tổ chức, hành chính của nhà trường.
- Tiêu chí 8. Quản trị tài chính nhà trường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ, lập dự toán, thực hiện thu chi, báo cáo tài chính, kiểm tra tài chính, công khai tài chính của nhà trường theo quy định;
- Mức khá: sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường;
- Mức tốt: huy động các nguồn tài chính hợp pháp theo quy định nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường; hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về quản trị tài chính nhà trường.
- Tiêu chí 9. Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh của nhà trường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện quy định của nhà trường về quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh của nhà trường; tổ chức lập và thực hiện kế hoạch mua sắm, kiểm kê, bảo quản, sửa chữa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo quy định;
- Mức khá: khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh của nhà trường;
- Mức tốt: huy động các nguồn lực để tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của trường; hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh của nhà trường.
- Tiêu chí 10. Quản trị chất lượng giáo dục trong nhà trường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tự đánh giá chất lượng giáo dục nhà trường theo quy định;
- Mức khá: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng, khắc phục điểm yếu theo kết quả tự đánh giá của nhà trường;
c) Mức tốt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển chất lượng bền vững; hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về quản trị chất lượng giáo dục nhà trường.
Điều 6. Tiêu chuẩn 3. Xây dựng môi trường giáo dục
Xây dựng được môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, dân chủ, phòng, chống bạo lực học đường.
- Tiêu chí 11. Xây dựng văn hóa nhà trường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện nội quy, quy tắc văn hóa ứng xử của nhà trường theo quy định;
- Mức khá: xây dựng được các điển hình tiên tiến về thực hiện nội quy, quy tắc văn hóa ứng xử; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm nội quy, quy tắc văn hóa ứng xử của nhà trường;
- Mức tốt: tạo lập được môi trường văn hóa lành mạnh, thân thiện trong nhà trường và hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về xây dựng văn hóa nhà trường.
- Tiêu chí 12. Thực hiện dân chủ cơ sở trong nhà trường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở trường học theo quy định;
- Mức khá: khuyến khích mọi thành viên tham gia thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; bảo vệ những cá nhân công khai bày tỏ ý kiến; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm quy chế dân chủ ở trong nhà trường;
- Mức tốt: tạo lập được môi trường dân chủ trong nhà trường và hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về thực hiện dân chủ cơ sở trong nhà trường.
- Tiêu chí 13. Xây dựng trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường
- Mức đạt: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện quy định của nhà trường về trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường;
- Mức khá: khuyến khích các thành viên tham gia xây dựng trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm quy định của nhà trường về trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường;
c) Mức tốt: tạo lập được mô hình trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường và hướng dẫn, hỗ trợ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông về xây dựng trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường.
Điều 7. Tiêu chuẩn 4. Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội
Tổ chức các hoạt động phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong dạy học, giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh và huy động, sử dụng nguồn lực để phát triển nhà trường.
- Tiêu chí 14. Phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện hoạt động dạy học cho học sinh
- Mức đạt: tổ chức cung cấp thông tin về chương trình và kế hoạch dạy học của nhà trường cho cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan;
- Mức khá: phối hợp với cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học nhà trường; công khai, minh bạch các thông tin về kết quả thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học của nhà trường;
- Mức tốt: giải quyết kịp thời các thông tin phản hồi từ cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan về thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học của nhà trường.
- Tiêu chí 15. Phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh
- Mức đạt: tổ chức cung cấp thông tin về nội quy, quy tắc văn hóa ứng xử của nhà trường cho cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan; tiếp nhận thông tin từ gia đình, xã hội về đạo đức, lối sống của học sinh;
- Mức khá: phối hợp với cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan trong thực hiện giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh;
- Mức tốt: giải quyết kịp thời các thông tin phản hồi từ cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan về giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh.
- Tiêu chí 16. Phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong huy động và sử dụng nguồn lực để phát triển nhà trường
- Mức đạt: tổ chức cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về thực trạng, nhu cầu nguồn lực để phát triển nhà trường cho cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan;
- Mức khá: phối hợp với cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan trong huy động và sử dụng nguồn lực để phát triển nhà trường theo quy định;
- Mức tốt: sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch, hiệu quả các nguồn lực để phát triển nhà trường; giải quyết kịp thời các thông tin phản hồi từ cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan về huy động và sử dụng nguồn lực để phát triển nhà trường.
Điều 8. Tiêu chuẩn 5. Sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin
Có khả năng sử dụng ngoại ngữ (ưu tiên tiếng Anh) và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị nhà trường.
- Tiêu chí 17. Sử dụng ngoại ngữ
- Mức đạt: giao tiếp thông thường bằng ngoại ngữ (ưu tiên tiếng Anh);
- Mức khá: chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển năng lực sử dụng ngoại ngữ (ưu tiên tiếng Anh) cho GV, nhân viên, học sinh trong trường;
- Mức tốt: sử dụng ngoại ngữ thành thạo (ưu tiên tiếng Anh); tạo lập môi trường phát triển năng lực sử dụng ngoại ngữ (ưu tiên tiếng Anh) cho GV, nhân viên, học sinh trong trường.
- Tiêu chí 18. Ứng dụng công nghệ thông tin
- Mức đạt: sử dụng được một số công cụ công nghệ thông tin thông dụng trong quản trị nhà trường;
- Mức khá: sử dụng được các phần mềm hỗ trợ quản trị nhà trường;
- Mức tốt: tạo lập được môi trường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy, học và quản trị nhà trường.
Việc đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng được tiến hành theo quy trình gồm 3 bước, hằng năm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng tự đánh giá thực hiện bước 1, hai năm một lần cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng thực hiện cả 3 bước. Quy trình đầy đủ 3 bước bao gồm:
- Bước 1: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng tự đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng;
- Bước 2: Nhà truờng tổ chức lấy ý kiến giáo viên, nhân viên trong trường đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng theo chuẩn hiệu trưởng;
- Bước 3: Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp thực hiện đánh giá và thông báo kết quả đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng theo chuẩn hiệu trưởng trên cơ sở kết quả tự đánh giá của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, ý kiến của giáo viên, nhân viên và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của hiệu trưởng thông qua các minh chứng xác thực, phù hợp.
1.2.4.3. Xếp loại kết quả đánh giá
Căn cứ vào kết quả đánh giá của từng tiêu chí, xếp loại chung kết quả đánh giá được chia thành 4 mức, mỗi mức có các điều kiện cụ thể là: tỉ lệ số lượng tối thiểu tiêu chí cần đạt ở mức tương ứng là 2/3 trong đó có 10 tiêu chí bắt buộc, cụ thể:
- Đạt chuẩn hiệu trưởng ở mức tốt: có tất cả các tiêu chí đạt từ mức khá trở lên, tối thiểu 2/3 tiêu chí đạt mức tốt, trong đó các tiêu chí 1, 2, 4, 5, 6, 8, 10, 12, 13 và 14 đạt mức tốt;
- Đạt chuẩn hiệu trưởng ở mức khá: có tất cả các tiêu chí đạt từ mức đạt trở lên, tối thiểu 2/3 tiêu chí đạt từ mức khá trở lên, trong đó các tiêu chí 1, 2, 4, 5, 6, 8, 10, 12, 13 và 14 đạt từ mức khá trở lên;
- Đạt chuẩn hiệu trưởng: có tối thiểu 2/3 tiêu chí đạt từ mức đạt trở lên, trong đó các tiêu chí 1, 2, 4, 5, 6, 8, 10, 12, 13 và 14 đạt từ mức đạt trở lên;
- Chưa đạt chuẩn hiệu trưởng: có trên 1/3 tiêu chí được đánh giá chưa đạt hoặc có tối thiểu 01 (một) tiêu chí trong số các tiêu chí 1, 2, 4, 5, 6, 8, 10, 12, 13 và 14 được đánh giá chưa đạt (tiêu chí được đánh giá chưa đạt khi không đáp ứng yêu cầu mức đạt của tiêu chí).
1.2.4.4. Chu kỳ đánh giá
Hướng tới mục tiêu quan trọng nhất là nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị nhà trường cho đội ngũ VCQL cơ sở giáo dục phổ thông, chu kỳ đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng trường TH và THCS được thực hiện hằng năm đối với tự đánh giá và thực hiện hai năm một lần đối với đánh giá của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp vào thời điểm cuối năm học.
Sau khi tự đánh giá (hằng năm), hiệu trưởng căn cứ kết quả tự đánh giá xây dựng và thực hiện kế hoạch rèn luyện phẩm chất, bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Sau đó, đến năm tiếp theo, theo chu kỳ 2 năm, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp là Phòng GD&ĐT sẽ đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng. Chu kỳ đánh giá này tạo cơ hội, thời gian cho mỗi hiệu trưởng, phó hiệu trưởng tự hoàn thiện, nâng cao năng lực bản thân trước khi được cơ quan quản lý cấp trên đánh giá.
Theo quy định của chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông đối với TH và THCS, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp là Phòng GD&ĐT đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng theo chu kỳ 2 năm một lần, trên cơ sở kết quả tự đánh giá của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, ý kiến của giáo viên, nhân viên và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của hiệu trưởng thông qua các minh chứng xác thực, phù hợp.
1.2.5. Phát triển
Khái niệm phát triển đề cập ở đây là phát triển con người, theo tác giả Phạm Minh Hạc, những đặc điểm cơ bản của sự phát triển toàn diện ở con người là hài hòa cân đối và cân bằng; tích hợp; toàn vẹn và chính thể; liên tục không gián đoạn; ổn định, bền vững; đầy đủ và hoàn toàn. Sự phát triển con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế là phát triển về khả năng con người, năng lực trí tuệ và kỹ năng hành dụng; trình độ nghiệp vụ chuyên môn hóa; khả năng hợp tác và cạnh tranh; khả năng di chuyển nghề nghiệp; khả năng hoạch định đánh giá Sức chịu đựng stress do nhịp độ sống và môi trường công nghiệp gây ra; học vấn chung về công nghệ; hiểu biết xã hội; hiểu biết hành chính; nhu cầu, sở thích tinh thần tương đối rõ; tính kỷ luật; tính độc lập của lý trí và tình cảm; năng động và hiệu quả trong công việc [2; tr10].
Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyện và cái mới ra đời v.v. Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao. Còn cái cao là cái thấp đã phát triển”
Vì vậy, muốn nâng chất lượng nguồn lực con người cần tập trung phát triển sự nghiệp giáo dục, mà trước hết cần phải phát triển đội ngũ giáo viên, đội ngũ viên chức quản lý với tư cách là sĩ quan của ngành giáo dục, có trách nhiệm dẫn dắt sự nghiệp giáo dục và quyết định chất lượng của quá trình giáo dục tổng thể trong mỗi nhà trường.
Từ những quan điểm nêu trên, ta có thể hiểu phát triển là biểu hiện sự thay đổi, sự tăng tiến cả về số lượng lẫn chất lượng của sự vật, hiện tượng của con người trong cộng đồng và xã hội.
Thuật ngữ “phát triển” theo triết học là: “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. Phát triển là quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao theo đường xoáy trôn ốc. Lý luận của phép Biện chứng duy vật khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển, tiến lên mãi mãi.
Nguyên nhân của sự phát triển là ở sự liên hệ tác động qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật hiện tượng. Hình thái, cách thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng đến những biến đổi chuyển hoá về chất và ngược lại. Con đường xu hướng của sự phát triển tiến lên từ từ, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn. Phát triển có thể là một quá trình thực hiện nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật, hiện tượng.
Những đặc trưng cơ bản của phát triển được biểu hiện như:
– Sự phát triển của tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ, tác động qua lại và quy định lẫn nhau, là quá trình vận động không ngừng;
– Phát triển từ những thay đổi về số lượng được chuyển hoá thành những thay đổi về chất lượng; Phát triển thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập; Phát triển có thể diễn ra bằng cách chuyển hoá, xoáy ốc và nhảy vọt.
Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng định hướng chiến lược cho sự phát triển của đất nước đi lên một cách bền vững gọi là phát triển bền vững. Phải đảm bảo cho nền kinh tế, văn hoá, XH phát triển bền vững được chỉ đạo bằng tư duy lý luận trên cơ sở có sự phát triển bền vững của môi trường. Trong đó phát triển bền vững giáo dục là một vấn đề vô cùng quan trọng vì nó quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế, văn hoá, XH.
1.2.6. Phát triển đội ngũ viên chức quản lý trường tiểu học và trung học cơ sở theo chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông
Phát triển đội ngũ viên chức quản lý thực chất là xây dựng và phát triển cả ba yếu tố: Quy mô, chất lượng, cơ cấu. Trong đó, quy mô được thể hiện bằng số lượng. Cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong bố trí về nhiệm vụ, độ tuổi, giới tính, chuyên môn, nghiệp vụ…hay nói cách khác là tạo ra một ê kíp đồng bộ, đồng tâm có khả năng hỗ trợ, bù đắp cho nhau về mọi mặt. Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức quản lý.
Xét về quy mô, chất lượng, cơ cấu dưới góc nhìn về việc phát triển nguồn nhân lực của nền kinh tế tri thức thì nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức quản lý bao gồm:
- Phát triển đội ngũ viên chức quản lý chính là thực hiện quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm, sắp xếp bố trí.
- Sử dụng đội ngũ viên chức quản lý là triển khai việc thực hiện các chức năng quản lý của đội ngũ, thực hiện bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý, phẩm chất chính trị; đánh giá, sàng lọc.
- Tạo động cơ và môi trường cho sự phát triển là tạo điều kiện cho đội ngũ viên chức quản lý phát huy vai trò của họ như thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ, chế độ khen thưởng, kỷ luật, xây dựng điển hình tiên tiến nhân ra diện rộng. Tạo cơ hội cho cá nhân có sự thăng tiến, tạo ra những ước mơ, hoài bão kích thích cho sự phát triển. Tạo cơ hội cho viên chức quản lý có điều kiện học tập, bồi dưỡng, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm.
Từ những lý luận về phát triển đội ngũ viên chức quản lý nêu trên ta thấy: Phát triển đội ngũ viên chức quản lý các trường tiểu học theo chuẩn hiệu trưởng (theo 05 tiêu chuẩn, 18 tiêu chí) thực chất là xây dựng, quy hoạch, bồi dưỡng, tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp bổ nhiệm, tuyển dụng cũng như tạo môi trường và động cơ cho đội ngũ này phát triển. Để thực hiện tốt việc này chúng ta cần nghiên cứu đặc điểm của từng địa phương, vùng miền, số lượng và đặc trưng của các trường tiểu học, bối cảnh về chính trị, kinh tế – xã hội hiện tại, yêu cầu chuẩn đối với viên chức quản lý cùng những đặc điểm tâm lý của người VCQL để đề ra nội dung, giải pháp cho phù hợp.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\THAY PHU\LAN + CANH (K39QN)


