CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN KIỆT TẤN

CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN KIỆT TẤN

CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN KIỆT TẤN

1. Lý do chọn đề tài

Văn học hải ngoại là dòng văn học được hình thành từ một bộ phận người Việt định cư ở nhiều nước trên thế giới. Đây chính là bộ phận văn học sẽ góp phần làm cho vườn hoa của nền văn học Việt Nam thêm rực rỡ và đầy hương sắc.

Trong nền văn học này, chúng ta không thể không ghi nhận những thành tựu và đóng góp to lớn của các nhà văn hải ngoại đối với văn học trong nước.
Một trong số những nhà văn hải ngoại có đóng góp cho nền văn học nước nhà là Kiệt Tấn. Ông là một trong những nhà văn di dân thuộc thế hệ đầu. Kiệt Tấn xuất hiện không ồn ào mà thật lặng lẽ, khiêm nhường nhưng có sức ảnh hưởng trên văn đàn hải ngoại.

Trong nền văn xuôi Việt Nam hải ngoại đã có nhiều tác giả viết về nỗi cô đơn của con người tha hương. Nhìn chung, trong sáng tác của các nhà văn lưu vong đều có giao điểm chung là đề cập đến nỗi cô đơn của thân phận con người khi lưu lạc nơi đất khách. Thế nhưng, con người cô đơn trong tác phẩm Kiệt Tấn, ngoài những điểm vừa nêu nó còn mang một hương sắc riêng, rất độc đáo.

Sự cô đơn của con người – vấn đề muôn thưở mà văn học quan tâm được nhà văn Kiệt Tấn thể hiện một cách sâu sắc. Nhân vật trong truyện ngắn Kiệt Tấn là những con người sống chông chênh giữa hai miền văn hóa, cuối cùng rơi vào sự buồn chán, bế tắc. Những trang văn của Kiệt Tấn đã phơi bày thế giới nội tâm phức tạp của những cái tôi đa dạng. Ẩn sâu trong từng con chữ, trong tột cùng của nỗi cô đơn là sự trân quý những tình cảm thiêng liêng của đời người; cô đơn như một dạng thức biểu hiện của những ẩn ức tâm lý bị kìm nén và hành trình ngược dòng phá vỡ sự cô đơn như một hành trình trở về với chính mình. Qua đó, nhà văn thể hiện rõ quan niệm mới mẻ và cái nhìn đa chiều về số phận con người – đặc biệt là bi kịch tha hương khi sống trong một môi trường xa lạ.

Câu hỏi về số phận con người là vấn đề chung của văn học nhân loại – một vấn đề mang tính thời sự đã được nhà văn Kiệt Tấn thể hiện một cách gần gũi, chân thực; chứa đựng những giá trị nhân bản, nhân văn sâu sắc.

Tìm hiểu cô đơn của con người – một chủ đề nổi bật trong truyện ngắn Kiệt Tấn cũng chính là cách thức khẳng định sự đóng góp của nhà văn Kiệt Tấn trong mối quan tâm đến số phận con người. Đồng thời, ghi nhận vị trí của ông trên văn đàn hải ngoại và trong sự gắn kết với cội nguồn văn học dân tộc. Đấy chính là lý do người viết văn chọn nghiên cứu đề tài: Con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn; đặc biệt nhấn mạnh vào các kiểu con người cô đơn và một số phương thức nghệ thuật biểu hiện con người cô đơn trong các truyện ngắn của ông.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Các tập truyện ngắn của Kiệt Tấn:

Em Điên Xõa Tóc, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2009

Người Em Xóm Học, NXB Thời Đại, 2011

Đêm Cỏ Tuyết, NXB Hội Nhà Văn, 2014

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1. Phương pháp cấu trúc – hệ thống

Dùng để tìm hiểu, hệ thống hóa những biểu hiện, những căn nguyên và dạng thức của nỗi cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn thành một hệ thống hợp lý để khám phá con người cô đơn trong truyện ngắn của ông

4.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp

Chia những vấn đề của con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn thành những vấn đề cụ thể để lí giải, đánh giá. Sau đó, tổng hợp khái quát làm nổi bật những giá trị trong truyện ngắn Kiệt Tấn.

4.3. Phương pháp so sánh – đối chiếu

Để thấy được những nét riêng, độc đáo của con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn. Chúng tôi tiến hành, so sánh đối chiếu với tác phẩm của nhà văn Võ Phiến.

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác

5. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm 3 chương:

Chương 1. Truyện ngắn Kiệt Tấn trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam hải ngoại

Chương 2. Các kiểu con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn

Chương 3. Một số phương thức biểu hiện con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn

CHƯƠNG 1

TRUYỆN NGẮN KIỆT TẤN TRONG DÒNG CHẢY

CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HẢI NGOẠI

1.1. Một số điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam hải ngoại

Văn học hải ngoại là dòng văn học được hình thành từ một bộ phận người Việt định cư ở nhiều nước trên thế giới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến người Việt định cư tại nước ngoài. Từ trước năm 1975, vì công việc, giáo dục và có dạng cưỡng bách, người Việt đã định cư ở Pháp. Đặc biệt, khi biến cố ngày 30.4.1975, chế độ cũ ở miền Nam Việt Nam sụp đổ, người Việt đã di tản định cư ở khắp các nước như: Mỹ, Pháp, Canada, … Chính những lần định cư này đã tạo nên bộ phận văn học của người Việt ở hải ngoại.

Văn học Việt tại hải ngoại phát triển rất phong phú và đa dạng về mặt thể loại. Trong đó, tiêu biểu nhất có thể kể đến truyện ngắn. Truyện ngắn Việt Nam hải ngoại nhìn chung có một số điểm nổi bật như luôn luôn thể hiện sự hoài niệm của những kẻ tha hương, nỗi buồn vong quốc của những phận người xa xứ. Bên cạnh đó, đề tài “kẻ lạ” được các tác giả đặc biệt quan tâm, khai thác cùng với đó là cảm thức ly hương, cô đơn, lạc loài, hoài nghi về bản thân của những con người khi tiếp xúc với một nền văn hóa mới, những con người mới trong một môi trường xa lạ. Đồng thời, truyện ngắn Việt Nam hải ngoại còn đề cập đến một điểm nổi bật khác là các tác giả đã chú ý hơn đến đề tài thích nghi và hội nhập vào trong các sáng tác của mình.

Điểm chủ đạo của truyện ngắnViệt Nam hải ngoại chính là hay đề cập đến sự hoài niệm, hồi nhớ quê hương. Đặc biệt, được thể hiện rõ nhất trong thời kỳ di tản đầu tiên của các nhà văn. Họ ra đi đều nằm trong tâm thế “lưu vong bất đắc dĩ” nên trong tiềm thức của những con người di dân đó luôn nặng lòng thương nhớ về nguồn cội, quê hương bây giờ đã xa và chỉ tồn tại trong nỗi hoài hương vô vọng. Vì lẽ đó, hoài niệm chính là hướng về đất nước, về cội nguồn dân tộc, về quê hương, gia đình để nguôi đi phần nào nỗi nhớ cố hương luôn đau đáu trong tâm hồn của những con người tha hương. Chính thế, nên xu hướng hoài niệm luôn là điểm nhấn đặc biệt được thể hiện xuyên suốt trong truyện ngắn Việt Nam hải ngoại.

Chủ đề hoài niệm được thể hiện trọn vẹn trong nhiều truyện ngắn của các tác giả Việt Nam hải ngoại. Trong đó, tiêu biểu nhất có thể kể đến các tác giả “miệt vườn” như Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Nguyễn Văn Sâm, đây đều là những gương mặt quen thuộc của văn học miền Nam sau năm 1975. Những nhà văn này đã mang đến cho nền văn chương Việt tại hải ngoại các truyện ngắn nổi bật như: Tết Này Anh Trở Về, Món Ăn Trên Bước Di Tản, Câu Hò Vân Tiên, Miên Man Thiên Lý, Trên Kinh Cờ Đỏ…, Trong sáng tác của những cây bút này, họ luôn nhấn mạnh đến con người, thiên nhiên, cảnh sắc thấm đượm phong vị Việt Nam dưới góc nhìn của những con người sống lưu vong để thõa mãn nỗi nhớ quê hương đang cháy âm ỉ trong lòng họ.

Truyện ngắn Việt Nam hải ngoại còn chú ý khai thác đến thân phận của những kiếp sống di dân. Họ đều ra đi trong tâm thế và hoàn cảnh đặc biệt, khi đặt chân đến vùng đất mới tất thảy họ đều trải qua một cú sốc mạnh mẽ về tinh thần khi phải tiếp xúc với một nền hiện thực mới mẻ, xa lạ và khó hiểu. Đặt chân đến vùng đất mới có quá nhiều khác biệt, rào cản về ngôn ngữ và văn hóa nên những tha nhân đó luôn luôn cảm thấy bất lực trong việc hòa nhập vào cuộc sống mới đầy lạ lẫm nơi đây. Họ sẽ sống như thế nào để thích nghi với cuộc sống mới tại đây. Trong tâm thức của con người tha hương lúc nào cũng định sẵn mặc cảm “lưu đày” không ai thừa nhận, nên đất nước mà họ đang sống hoàn toàn là một môi trường xa lạ. Nội dung này được ghi dấu đậm nét trong các truyện ngắn của nhà văn Võ Phiến như hai tác phẩm Ly Hương và Nguyên Vẹn.

CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN KIỆT TẤN
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN KIỆT TẤN

Một đề tài thường thấy khác trong truyện ngắn Việt Nam hải ngoại là các tác giả đặc biệt quan tâm đến đề tài “kẻ lạ”. Trong thời gian đầu xoay sở để thích nghi với cuộc sống mới, những kiếp lưu vong đều có tâm thức mình bị chối bỏ, họ rơi vào cảm giác vô định và trở thành “kẻ lạ” tại nơi mà họ đang định cư. Lúc nào trong tâm thức của con người di dân luôn đau đáu vang lên câu hỏi đầy đau đớn “ta là ai, ta là gì giữa cuộc đời này”. Chính vì xem mình là một “kẻ lạ” nên những kiếp di dân bé nhỏ đó tự lúc nào cũng cảm thấy lạc loài và ẩn sâu trong tâm hồn là một khối cô đơn nặng trĩu không ai có thể thấu hiểu được. Tâm trạng “kẻ lạ” lạc loài cô đơn này được thể hiện hầu hết trong các truyện ngắn của Kiệt Tấn, Túy Hồng, Thanh Nam…,

Thích nghi và hội nhập cũng được xem là một trong những đề tài chính được thể hiện trong truyện ngắn Việt Nam hải ngoại. Nội dung này được các nhà văn thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba – những người rời khỏi Việt Nam từ khi còn nhỏ hoặc sinh ra và trưởng thành ở nước ngoài khai thác nhiều hơn là các nhà văn thuộc thế hệ di tản đầu tiên. Có thể kể đến những gương mặt nổi bật ở mảng truyện ngắn như Lê Minh Hà, Thuận, Phan Nhiên Hạo.

Trong các tác phẩm của các nhà văn viết về đề tài hội nhập có ít cốt truyện về cuộc sống trước đây ở Tổ quốc, bởi lẽ họ đã ra đi từ hồi còn nhỏ và đối với các nhà văn này, Việt Nam không phải là cái cảm nhận được và cái mong muốn như đối với thế hệ cha anh. Bởi vậy, họ viết về cuộc sống hiện tại của mình, dù đó là Mỹ, Pháp hoặc Nhật, xuất phát từ tình hình thực tế của cái thế giới hiện đại xung quanh. Các cây bút này rất tự tin, thoải mái trong việc thể hiện tình cảm và bộc lộ những nhận định. Khác với các nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên, đối với nhiều người trong số họ, văn học chủ yếu là sự tiêu khiển, sự giải trí về mặt tinh thần mà không phải là nhu cầu bức thiết của cuộc sống. Hơn nữa, họ đang ở trong một tình thế đặc biệt – họ cần phải đi tìm độc giả của mình vốn, cũng như họ, thuộc về cái thế hệ mà họ có thể chia sẻ những suy nghĩ và tình cảm của mình thông qua các tác phẩm viết bằng tiếng Việt.

Không phải tất cả các nhà văn này nhất quán đi theo con đường đó – viết bằng tiếng Việt. Một bộ phận không nhỏ đã hoặc sẽ nhanh chóng chuyển sang tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các thứ tiếng khác với tư cách là công cụ sáng tác và giao tiếp, bởi lẽ sự lựa chọn này giúp họ hoà nhập vào dòng chảy chung của văn học ở nước họ định cư và vào văn học thế giới nói chung như trường hợp của cây bút nữ Linda Lê là một minh chứng điển hình.

Nhìn chung, bức tranh của truyện ngắn Việt Nam tại hải ngoại rất phong phú về màu sắc và đường nét. Đề tài thể hiện đa dạng và số lượng tác giả sáng tác ngày càng đông đảo. Chung quy, các tác giả hải ngoại đã phần nào tái hiện lại trong các tác phẩm của mình về sự đổi thay trong đời sống tinh thần của những con người tha hương lưu vong và sự hoài niệm cố quốc khi thương nhớ về nguồn cội nay chỉ tồn tại trong tâm tưởng. Đồng thời, bên cạnh khuynh hướng “hoài niệm” là sự “hội nhập” như một minh chứng cho sự đổi thay trong việc mở rộng biên độ đề tài của các tác giả truyện ngắn Việt Nam hải ngoại.

1.2. Kiệt Tấn – khuôn mặt lạ của truyện ngắn Việt Nam hải ngoại

1.2.1. Kiệt Tấn và hành trình sáng tạo của “kẻ lưu vong bất đắc dĩ”

Kiệt Tấn ( tên thật là Lê Tấn Kiệt). Ông sinh năm 1940 tại làng Vĩnh Lợi -Bạc Liêu. Kiệt Tấn học tiểu học đến 10 tuổi thì rời Bạc Liêu theo học trung học tại Vĩnh Long, Mỹ Tho (tú tài 1). Sau đó, chuyển đến Sài Gòn học tú tài 2.

Năm 19 tuổi, Kiệt Tấn xuất ngoại du học tại Canada. Tại đây, ông đăng ký nhập học tại trường đại học Laval, Quebec. Sau thời gian dài du học tại nước ngoài, năm 1963 Kiệt Tấn trở về nước và làm việc tại Sài Gòn với tư cách chuyên viên (kỹ sư) ở Bộ kinh tế. Năm 1969, nhà văn tham gia nhập ngũ. Sau đó, ông được biệt phái trở về làm việc tại nhiệm sở cũ. Năm 1973, Kiệt Tấn được đề cử chức vụ Giám Đốc Định Chuẩn. Tháng 3 năm 1975, nhà văn xuất ngoại công tác tại Paris và định cư luôn tại đây.

Tuy sống tại đất nước hoa lệ nhưng cuộc sống của gia đình Kiệt Tấn rất khó khăn. Năm 1977 – chỉ sau hai năm định cư tại đây, Kiệt Tấn lâm vào cảnh thất nghiệp; cùng lúc đó, tinh thần ông không được ổn định nên phải vào bệnh viện tâm trí dưỡng bệnh.

Năm 2009, Kiệt Tấn trở về thăm quê và cho in tập truyện Em điên xõa tóc tại Sài Gòn. Năm 2010, ông cùng bạn hữu xúc tiến việc thành lập Thư Viện Hải Ngoại trên Intrernet để bảo tồn văn chương hải ngoại.

Kiệt Tấn hiện cư ngụ tại Bagnolet thuộc ngoại ô Paris cùng gia đình.

Hành trình sáng tạo của Kiệt Tấn “kẻ lưu vong” bất đắc dĩ là một hành trình sáng tạo không liền mạch, nó bị đứt quãng bởi cuộc lưu vong không mong muốn của tác giả tại hải ngoại sau biến cố chính trị tại Việt Nam năm 1975. Đây là một hành trình được chia làm hai thời kỳ rõ rệt trước và sau năm 1975.

Trước năm 1975, lúc Kiệt Tấn còn ở trong nước, vào năm tác giả 17 tuổi – thuở ông còn học trung học tại Việt Nam, Kiệt Tấn đã tập tành làm thơ và viết một số truyện ngắn. Trong đó, tiêu biểu nhất là truyện Bến Đò Trao thơ và Đêm Cỏ Tuyết. Bên cạnh đó, tập thơ Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái phá là tập thơ duy nhất được tác giả sáng tác ở trong nước trước khi ông sống lưu vong ở nước ngoài.

Tập thơ Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái phá của thi sĩ được trình làng lần đầu tiên vào năm 1966 do nhà xuất bản Sáng Tạo ấn hành tại Sài Gòn với hơn bốn mươi lăm bài thơ làm từ những năm 1961-1962. Với phong cách hiện đại siêu thực, hầu hết các bài thơ đều không vần. Sau đó, tập thơ này được Thư Ấn quán Hoa Kỳ tái bản vào năm 2008.

Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái phá là tập thơ duy nhất được Kiệt Tấn sáng tác tại quê nhà trước khi ông lưu lạc ở nước ngoài “Điệp Khúc Tình Yêu Và Trái phá xuất hiện vào thời điểm chiến tranh khốc liệt, trong môi trường lửa đạn dai dẳng ở Việt Nam” [7, tr. 676].

Trước năm 1975, khi Kiệt Tấn còn sinh sống và sáng tác văn học tại Việt Nam, đã có thời gian tác giả cộng tác với các tạp chí Nghệ Thuật, Việt Chiến, Văn,Văn Học và Vấn Đề.

Năm 1960, Kiệt Tấn được cử sang Canada du học. Tại đây, ông đã viết truyện ngắn đầu tay – viết về Diana, người em xóm học “Hình như truyện ngắn đầu tay tôi viết về Diana, người em xóm học, khi tôi từ Paris trở về Quebec năm 1961, không còn nhớ rõ tựa, đăng trên nội san Đất Lạnh số 1 của nhóm sinh viên Việt du học tại Qúebec chủ trương” [7, tr. 648]. Nối tiếp Người Em Xóm Học, Kiệt Tấn còn ra mắt bạn đọc hai truyện ngắn khác là Yêu Em Xứ Tuyết và Em Đến Mùa Trăng Cuối vào năm 1961. Đây xem như là những truyện ngắn đầu tiên được Kiệt Tấn sáng tác tại nước ngoài khi ông du học và trước khi nhà văn bắt đầu kiếp sống lưu vong chính trị của mình sau biến cố năm 1975.

Sau năm 1975, Kiệt Tấn sang Paris công tác và kể từ khoảng thời gian này ông bị mắc kẹt và sống lưu vong tại đây. Khi sống tha hương tại Pháp, trong tâm thế của Kiệt Tấn lúc nào ông cũng xem mình là “kẻ lưu vong bất đắc dĩ”, khó có thể hòa nhập một cách trọn vẹn với môi trường sống lạ lẫm và lạc lõng nơi đây cùng với việc nhà văn bị những cơn sang chấn tâm lý phải vào nhà thương điên điều trị dai dẳng nên việc sáng tác văn học của Kiệt Tấn không được liền mạch như một số nhà văn hải ngoại khác trên văn đàn. Đây được xem như là điểm khác biệt trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Kiệt Tấn trên nền văn chương Việt tại hải ngoại.

Với kiếp tha hương, Kiệt Tấn đã trải qua những tháng ngày sống đầy những bất an, lo toan, cô đơn và bệnh tật. Hơn hai lần nhà văn phải vào nhà thương điên để dưỡng bệnh “Bệnh viện Paul Brousse. Tôi vào đây lúc phát khùng lần đầu. Ra khỏi nhà thương điên này 10 năm về trước là cả một nhiệm màu. Lúc đó, là tháng tư, chớm xuân, và cũng là tháng sinh nhật của tôi. Tôi trở lại nhập viện Paul Brousse lần thư hai vào mùa hè. Bà Giraud chẩn bệnh và lấy quyết định chữa bệnh cho tôi theo lối protocole” [7, tr. 267]. Như vậy, tâm lý và tinh thần của Kiệt Tấn có phần bất ổn, xáo trộn và rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Có thể, đây là một trong những tác nhân khiến cho ông không thể cầm bút trở lại trong suốt 21năm như thế.

Có điều lạ lùng, mặc dù rất yêu thích văn chương và ông có khá nhiều tác phẩm được sáng tác tại quê nhà, thế nhưng từ khi sang định cư tại nước ngoài, Kiệt Tấn hầu như không sáng tác trở lại. Trong Em Điên Xõa Tóc, ông bộc bạch “cả chục năm nay tôi bỏ viết. Tôi không đủ đam mê. Tôi không viết để chứng minh. Tôi viết khi cảm thấy có nhu cầu. Nếu không viết mà vẫn sống hạnh phúc, tôi sẽ không bao giờ viết, vì tôi đang ở trong trạng thái quân bình. Nếu viết, tôi sẽ đánh mất quân bình. Khi viết, tôi như người lên đồng, lúc cười lúc khóc vật vã, hành xác” [6, tr. 277].

Kể từ khi Kiệt Tấn bị mắc kẹt và sống tha hương tại Pháp từ sau biến cố lịch sử năm 1975, nhà văn đã không còn sáng tác đều đặn như thời điểm trước năm 1975 – khi ông còn ở quê nhà như trước mà phải đến 21 năm sau – một khoảng thời gian khá dài Kiệt Tấn mới cầm bút sáng tác trở lại và tập truyện Nụ Cười Tre Trúc của ông mới được xuất bản ở hải ngoại lần đầu tiên vào năm 1985 và cũng chính tác phẩm này đã bắc cầu cho những tác phẩm khác nối tiếp nhau, làm nên tên tuổi Kiệt Tấn trên văn đàn hải ngoại.

Liền mạch sau đó, Kiệt Tấn đã cho ra mắt bạn đọc hải ngoại hàng loạt các tác phẩm đặc sắc khác như: Lớp lớp phù sa (truyện dài), NXB Văn Nghệ, 1987; Thương nàng bấy nhiêu (tập truyện), NXB Người Việt, 1988; Nghe mưa (tập truyện), NXB Xuân Thu, 1989; Em ơi biết tìm đâu (tập truyện), NXB An Tiêm,1994; Tuyển tập Kiệt Tấn, NXB Văn Mới, 2002; Em điên Xõa Tóc (tập truyện), NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2009.

Năm 2009, kiệt Tấn trở về Việt Nam và trình làng độc giả trong nước tập truyện ngắn Em điên Xõa Tóc do nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn phát hành đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.

Tiếp nối các tác phẩm đã ra đời, Kiệt Tấn còn dự định xuất bản một số tập truyện ngắn khác như: Một người rất bận (tập truyện), NXB Văn Mới, Mỹ, 2010; Nụ cười tre trúc (tập truyện), NXB Hà Nội, 2010; Người em xóm học (tập truyện), NXB Sài Gòn, 2010; Bụi loãng trong thương nhớ (tập truyện), Mỹ, 2011; Lớp lớp phù sa (truyện dài), NXB Sài Gòn, 2011; Lục bát điên (Thơ tuyển), NXB Sài Gòn, 2012.

Ngoài ra, Kiệt Tấn còn tham gia cộng tác với các tạp chí Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Văn, Làng Văn, Việt Nam Tự Do, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Người Việt, Tân Văn, và trên mạng với các diễn đàn Talawas, Tiền Vệ, Văn Chương Việt, Phụ Nữ Việt tại hải ngoại.

Với một người yêu và đam mê văn chương như Kiệt Tấn, sau khoảng thời gian dài không cầm bút khi sống ở hải ngoại thì bây giờ, ông đã tích cực tìm lại được niềm say mê và sự cân bằng trong cuộc sống nhờ vào hàng loạt các tập truyện nối tiếp nhau ra đời.

Như vậy, điểm đặc biệt trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Kiệt Tấn chính là nhà văn có một hành trình sáng tác văn học không liền mạch như một số tác giả khác trên văn đàn hải ngoại mà nó bị chững lại, đứt đoạn một khoảng thời gian khá dài kể từ khi Kiệt Tấn sống lưu vong tại nước ngoài sau năm 1975. Trước năm 1975, khi còn sinh sống và làm việc tại Việt Nam, nhà văn đã cho ra mắt bạn đọc một số truyện ngắn và tập thơ đầu tay; nhưng khi tha hương nơi xứ người, Kiệt Tấn hầu như không sáng tác trở lại và phải đến 21 năm sau tập truyện đầu tiên mới được ông ra mắt bạn đọc hải ngoại. Nụ Cười Tre Trúc (1985) chính là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự trở lại của cây bút Kiệt Tấn trên nền văn chương hải ngoại và sau đó là hàng loạt các tác phẩm khác nối tiếp nhau ra mắt độc giả Việt sống xa xứ nơi đất khách quê người như một minh chứng cho thấy tình yêu văn chương luôn thấm đẫm trong trái tim nhà văn Kiệt Tấn.

1.2.2. Quan niệm nghệ thuật của Kiệt Tấn

1.2.2.1. Sáng tạo văn chương – cách giải tỏa cô đơn ẩn ức

Trong cuộc sống đời thường, Kiệt Tấn được mọi người nhận xét là người khá hóm hỉnh, vui tính, phóng khoáng và cũng hơi… khật khùng nhưng đôi khi cũng rất đỗi suy tư, thâm trầm. Có lẽ, sự đánh giá này đã thể hiện phần nào một góc nhỏ cá tính trong con người nhà văn. Cá tính độc đáo ấy thể hiện rất rõ nét trong các tập truyện ngắn của ông, đặc biệt nó đã ảnh hưởng và chi phối đến quan niệm nghệ thuật của Kiệt Tấn trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình.

Trên hành trình đó, Kiệt Tấn đã có những bước đi riêng đồng thời nhà văn đã chứng tỏ được bản lĩnh nghệ thuật và tạo nên dấu ấn riêng trong giới phê bình cũng như bạn đọc qua những quan niệm mới mẻ về nghệ thuật.

Trong truyện ngắn Em điên xõa tóc Kiệt Tấn đã phát biểu quan niệm rất riêng của mình về văn chương: “Tôi không viết để chứng minh. Tôi viết khi cảm thấy có nhu cầu” [6, tr. 277]. Kiệt Tấn là một con người nhạy cảm, ông sống tình cảm và rất dễ xúc động thế nên ông chỉ cầm bút khi chính bản thân nhà văn cảm thấy mình thật sự cần viết, thật sự có nhu cầu để dùng con chữ nói thay những điều sâu kín đang ẩn khuất trong sâu thẳm tâm hồn.

Hơn nữa, Kiệt Tấn là một nhà văn – một người nghệ sĩ nên ông ý thức rất rõ sức mạnh của văn chương nghệ thuật mang đến cho tinh thần con người. Đặc biệt, trong hoàn cảnh sống hiện tại, nhà văn là một kẻ lưu vong sống trên đất Pháp đã ngót nghét 42 năm nên trong những năm tháng tha hương nơi đất khách quê người ông luôn luôn cảm thấy “cô đơn” vì nhiều lẽ. Vì tha hương, vì vong quốc, vì bất lực trước hoàn cảnh sống hiện tại, vì không ai hiểu được mình hay chính bản thân ông không thấu hiểu chính ông nên viết đối với Kiệt Tấn khi ông có nhu cầu như là một phương cách để giải phóng nỗi cô đơn đang choáng ngợp trong tâm hồn tác giả.

Đến với văn chương, Kiệt Tấn đã quan niệm rất rõ “không viết để chứng minh. Chỉ viết khi cảm thấy có nhu cầu”. Đối với Kiệt Tấn, văn học nghệ thuật là điều thật sự trân quý nên không thể ai ai cũng tùy tiện cầm bút sáng tác để chứng minh điều gì mà bản thân nhà văn phải thật sự thấy viết, đặt bút lên trang giấy là điều mà mình mong muốn, cần thiết. Là một người yêu văn chương nên nhà văn hiểu rất rõ con chữ trên trang giấy trắng là món quà tinh thần vô giá đối với con người, nhất là những lúc họ rơi vào sự vô hướng, chông chênh giữa cuộc đời và văn chương lúc này đối với ông như một người bạn tri âm – tri kỉ, giúp Kiệt Tấn giải phóng nỗi cô đơn và vượt qua những bế tắc, bất lực trước cuộc sống hiện tại. Kiệt Tấn sáng tác văn học không nhằm chứng minh bất kỳ điều gì hết mà chỉ vì bản thân nhà văn thấy cầm bút lúc này sẽ giúp ông quên nỗi đau của kiếp sống lưu vong bất đắc dĩ, của những chấn thương tâm lý đột khởi trong tinh thần; không những thế, sáng tạo văn chương khi ông cảm thấy mình phải cầm bút sẽ giúp Kiệt Tấn giải tỏa những ẩn ức, bế tắc và sự bất lực của cuộc sông hiện tại nơi xứ người. Chính thế, nhà văn từng giãi bày “tự nhiên tôi thèm viết, viết gì cũng được, miễn được cầm bút và ngúy ngoáy trên trang giấy trắng. Hồi còn học sinh, tôi hay viết nhậy ký. Tôi dở tập đến hết phần thơ chép và cầm bút đặt lên trang giấy đầu còn lại” [6, tr. 270].

Trong Người Em Xóm Học, Kiệt Tấn khẳng định “Nếu không viết mà vẫn sống hạnh phúc, tôi sẽ không bao giờ viết, vì tôi đang ở trong trạng thái quân bình. Nếu viết, tôi sẽ đánh mất quân bình. Khi viết, tôi như người lên đồng, lúc cười, lúc khóc, vật vã, hành xác” [7, tr.186]. Dù biết, khi viết sẽ đánh mất quân bình nhưng Kiệt Tấn vẫn chọn được cầm bút và dùng con chữ – sáng tạo văn chương để giải tỏa những cô đơn, ẩn ức đang nằm sâu trong tầng vô thức của tâm hồn mình. Tâm niệm này của nhà văn càng góp phần làm sáng thêm quan niệm nghệ thuật viết không để chứng minh mà viết khi có nhu cầu của ông.

Như vậy, quan niệm “viết khi có nhu cầu” hiện ra trong suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật của Kiệt Tấn, in dấu đậm nét thông qua các tập truyện ngắn Em Điên Xõa Tóc, Đêm Cỏ Tuyết và Người Em Xóm Học của ông. Trong thức nhận của Kiệt Tấn, viết văn không chỉ nhằm thể hiện mình, không chinh phục ai mà chỉ để trang trải nỗi lòng với những băn khoăn, trăn trở trước kiếp sống lưu vong, tha hương nơi xứ lạ của phận người di dân.

1.2.2.2. Sáng tạo bằng tâm thế “không chủ trương”

Kiệt Tấn có một quan niệm về văn chương nghệ thuật rất rõ ràng, ông tâm niệm: “Tôi vốn không thích bàn cãi hay tranh luận văn nghệ. Tôi chủ trương “viết không có chủ trương”, viết từ bên trái sang bên phải, và viết từ trên xuống dưới là ăn chắc”[7, tr. 500], “Tôi viết cho bất cứ ai đọc được tiếng Việt. Tôi viết không có chủ trương gì hết ráo. Không có chủ trương theo cái nghĩa ai muốn viết gì đó thì cứ viết. Và dĩ nhiên ai muốn đọc gì đó thì cứ đọc” (…) “Viết không chủ trương cũng là một chủ trương”[5, tr. 545]. Có thể thấy rằng, thực chất cái gọi là không chủ trương của Kiệt Tấn cũng được xem là một chủ trương. Ở đây, không chủ trương không có nghĩa là viết gì thì viết, có thể tùy tiện trong sáng tác. Chủ trương của Kiệt Tấn ở đây chính là tác giả đặc biệt chú trọng, biết nắm bắt sự thăng hoa, đột khởi trong cảm xúc của bản thân trong những phút giây đặc biệt tạo nên sự sáng tạo trong sáng tác nghệ thuật.

Chủ trương của Kiệt Tấn thiên về mặt cảm xúc, khi sáng tác nhà văn để cho con chữ được tuôn ra theo cái mạch của tình cảm, của những xung động mạnh của cảm giác chứ không quá cầu kỳ trong việc sử dụng kỹ thuật viết.

Có thể thấy, quan niệm nghệ thuật với tâm thế “viết không chủ trương” của Kiệt Tấn tuy không hẳn là một quan niệm văn chương mới mẻ nhưng rất độc đáo; bởi lẽ tác giả không quá đề cao và tuân theo kỹ thuật viết như một số nhà văn hải ngoại khác như Thuận hay Phan Việt…mà ông chú trọng đến tính cảm xúc, sự chân thành, sự thể hiện trọn vẹn cái tâm và tình của người sáng tác. Chính tâm thành và quan niệm nghệ thuật độc đáo đó của nhà văn đã lay động, tạo nên một đường dẫn đồng cảm và chạm đến trái tim, tâm hồn của người đọc khi thưởng thức tác phẩm của ông. Kiệt Tấn từng khẳng định “…Theo cảm quan của tôi, sau khi đọc xong bất cứ một truyện nào đó, điều đáng kể là một chút cảm giác khó quên, một chút ám ảnh khôn nguôi, một chút không khí lạ lùng, một chút ấn tượng nhớ hoài còn sót lại ở người đọc. Truyện viết được như vậy mới có thể gọi là thành công, là “đạt”. Bởi lẽ đó nên khi cầm bút, tôi viết theo cảm quan của tôi, tôi viết theo tính khí của tôi chớ tôi không viết theo một chủ trương nào hết, cho dù chủ trương đó mới toanh hay cũ mèm”[7, tr. 664]. Như đã nói, quan niệm nghệ thuật “không chủ trương” của Kiệt Tấn trong sáng tạo văn chương dễ khiến độc giả hiểu lầm. Ông nói rằng : “tôi viết theo tính khí của tôi chớ tôi không viết theo một chủ trương nào hết”, cái tính khí mà Kiệt Tấn nhắc đến ở đây chính là cái mạch tự nhiên của tình cảm ở người sáng tác . Sự “tự nhiên” đó còn được ông phát biểu “Tôi có quan niệm về truyện ngắn hay hoặc dở như sau: Tôi tưởng tượng độc giả là người phụ nữ. Khi sáng tác truyện ngắn, tác giả rủ độc giả làm tình. Nếu cả hai đã đời, truyện ngắn thành công. Nếu chỉ có một bên đã đời, truyện ngắn thất bại. Nếu không có bên nào đã đời, truyện ngắn thảm bại. Còn nói hay hoặc dở chung quy cũng chỉ là diễn tả lên cái ý tôi thích hoặc tôi không thích của mình mà thôi. Mà khi tôi nói thích hoặc tôi không thích thì không có tiếng nói nào thẩm quyền hơn tiếng nói nào. Cũng như ăn uống, cũng như nghe nhạc, cũng như xem tranh, cũng như khi chiêm ngưỡng người đẹp” [7, tr. 237 – 238].

Có thể thấy, trong quan niệm “không chủ trương” của Kiệt Tấn, tác giả luôn luôn chú trọng đến sự tiếp nhận của độc giả trước cái “tình cảm tự nhiên” của người sáng tác. Tuy Kiệt Tấn nói là “không chủ trương” nhưng thực ra đó lại là “một chủ trương” xuyên suốt trong sáng tác văn học của nhà văn. Quan điểm này đã trở thành định hướng tư tưởng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Kiệt Tấn.

1.2.2.3. Sự trân trọng độc giả

Kiệt Tấn là một nhà văn tâm huyết với nghề, nghiêm túc và có ý thức cao trong sáng tác văn chương.Theo ông, đó là phẩm chất cần có của một nhà văn – một người cầm bút chân chính. Kiệt Tấn rất trân trọng cá tính sáng tạo của bản thân, bởi khi đặt bút lên trang giấy, nhà văn phải chịu trách nhiệm về những gì mình viết bởi đó cũng là một cách thể hiện sự tôn trọng độc giả. Mặc dù, Kiệt Tấn sáng tác không đều nhưng những tác phẩm của ông đều thể hiện rõ trách nhiệm của một nhà văn đối với nghiệp cầm bút.

Bên cạnh đó, ông còn là một người rất mực trân quý độc giả. Nhà văn từng trải lòng “Có những truyện tôi viết suôn sẻ, có truyện viết xong tôi xé hết,viết lại từ đầu. Tôi viết chậm, có thể nói là rất chậm, sau đó là đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại, có khi thời gian sửa còn nhiều hơn cả thời gian viết. Không hiếm những lần tôi sửa tới sửa lui sửa xuôi sửa ngược một câu cho chán chê rồi cuối cùng trở lại giữ câu đầu tiên viết ra. Khùng thiệt! Tùy cảm hứng, có khi tôi viết cho tôi, nhưng phần lớn là tôi viết cho người đọc. Khi sửa chữa bản văn, tôi đặt mình vào địa vị người đọc, tôi sửa tới sửa lui, đọc đi đọc lại nhiều bận rồi tự hỏi: Liệu đọc như vậy đã sướng chưa? Cái cảm giác chung chung mà tôi đón nhận được ở những người đọc truyện của tôi là “đã”. Đọc thấy đã (sướng ran!) [7, tr. 661]. Là một nhà văn tâm huyết với nghề nên Kiệt Tấn rất quan tâm đến cảm nhận của độc giả, ông muốn người đọc khi thưởng thức tác phẩm của mình phải cảm thấy thỏa mãn tất cả các giác quan, phải hứng thú thật sự, phải cảm thấy “đã” thì Kiệt Tấn mới hài lòng. Phải là một nhà văn có trách nhiệm trong nghề cầm bút và quan tâm đến sự đón nhận của bạn đọc nồng nhiệt đến thế mới có thể đạt đến sự chân thành toàn vẹn, nói như Nguyễn Mộng Giác trong lời tựa tập truyện ngắn Em điên xõa tóc: “Kiệt Tấn đã sống hết mình, và viết hết mình. Khi sự chân thành đã đạt đến độ giống như tự khỏa thân trước cuộc đời, thì cái Tâm Thành đó cộng với Tài Ba phải thành Nghệ Thuật”[6, tr.12].

Như vậy, sự thành công của nhà văn Kiệt Tấn trên văn đàn hải ngoại hôm nay là minh chứng về quan niệm nghệ thuật của một cây bút đầy trách nhiệm và đặc biệt góp phần vào sự thành công đó không thể không nhắc đến việc tác giả đạt đến trạng thái thăng hoa khi sáng tạo nghệ thuật trong trạng thái vô thức của những cơn địa chấn đột khởi bùng phát trong tinh thần; sự trân trọng những giá trị lao động nghệ thuật và quý mến người đọc của nhà văn trên con đường văn chương.

1.3. Dấu ấn riêng của truyện ngắn Kiệt Tấn trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại

Khảo sát ba tập truyện ngắn của nhà văn Kiệt Tấn, chúng ta thấy trong tác phẩm của ông rất đậm màu sắc tự truyện, giàu ái tình và thấm đẫm nỗi cô đơn. Đó cũng chính là dấu ấn riêng của tác giả Kiệt Tấn trên văn đàn hải ngoại.

Trong phỏng vấn Kiệt Tấn do Đặng Mai Lan và Phan Thị Trọng Tuyến thực hiện. Nhà văn khẳng định: “Hầu hết những truyện tôi viết đều là tự truyện” [7, tr. 660].Với truyện ngắn Kiệt Tấn, yếu tố tự truyện trong ba tập truyện của ông được thể hiện rất rõ khi nhà văn liên tục dùng chất tự truyện như một gia vị để làm bùng cháy những đoạn đời đã qua của mình.

Nhờ có yếu tố tự truyện mà quá khứ trong cuộc đời tác giả được tái sinh, nhà văn như sống lại, đánh thức lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình trong bản biên niên của cả một đời người. Đó là những hồi ức của tuổi thơ Kiệt Tấn về tình yêu thương của gia đình, của quê hương, về những mối tình đã qua được thể hiện trọn vẹn thông qua điểm nhìn, qua ngôi kể thứ nhất được xưng bởi nhân vật Tôi.

Ở đây, giữa người kể chuyện, tác giả và nhân vật chính có sự song trùng lẫn nhau, hòa hợp lẫn nhau nên thật khó tách bạch giữa ba nhân vật này; nhưng điều quan trọng sự mờ nhòe giữa các ngôi kể đều nhằm tái hiện lại một dĩ vãng đã qua và đã xa trong đoạn đời mà nhà văn từng sống và dĩ vãng đó đang hồi sinh sống động trong tâm hồn tác giả.

Trong hành trình ngược dòng trở về quá khứ đi tìm cái tôi đã qua của nhân vật tôi thì tiểu sử tác giả chỉ đóng vai trò là cơ sở của sự sáng tạo nghệ thuật. Ở đây, bàn tay của nhà văn đã khéo léo lựa chọn, sắp xếp, hư cấu lại các sự kiện, các chi tiết trên đường dẫn, chất liệu là yếu tố tự truyện. Kiệt Tấn phát biểu: “Tuy nhiên, tôi không phải là một người đêm đêm kể chuyện đời xưa cho con nít nghe hay một ký giả chiến trường viết bài tường trình cho một tai nạn tình ái kèm theo ảnh chụp. Về cách dựng truyện, trước khi viết, tôi hồi tưởng lại cuộc tình của mình, sau đó tôi sắp xếp các sự kiện, các chi tiết để cho chúng xuất hiện theo một thứ tự nào đó mà tôi thấy “hết xảy”. Tôi thường đảo lộn trật tự, cắt đổi thời gian, hoán chuyển không gian”[7, tr. 660]. Tuy có yếu tố hư cấu nhưng người viết phải tôn trọng sự thật, tính xác thực của sự kiện trong một giới hạn mà tác giả cho là không vượt ngưỡng “Khi viết, tôi cố gắng tôn trọng sự thật tới mức có thể được. Thứ nữa, thêm một điều quan trọng: độc giả chỉ muốn đọc một truyện hay chứ không nhất thiết phải là một chuyện thật trăm phần trăm. Họ cóc cần, có thể nói thẳng ra như vậy. Thế nhưng nếu hư cấu quá trớn, truyện viết thấy “xạo” rõ ràng thì độc giả cũng chịu đời không thấu”[7, tr. 660].

Như vậy, yếu tố tự truyện trong truyện ngắn Kiệt Tấn đã có sự pha trộn, kết hợp hài hòa giữa sự thật và hư cấu nhưng sự thật và tính chân thực được đặc biệt chú trọng, trong đó, tỷ lệ cái thật trội hơn so với hư cấu, thậm chí là bộ xương để kiến tạo cốt truyện, khai triển sự kiện; “Chúng tôi cho rằng (…) dù có tuyên bố hay không, nhà văn vẫn ngầm chịu trách nhiệm với độc giả về tính chân thực của chi tiết, sự kiện. Từng chặng đường đời hoặc các sự kiện của một quãng đời được thuật lại chi tiết, có tính xác thực cao”[36]. Nguyễn Mạnh Trinh đã khẳng định: “Nửa tự truyện nửa hư cấu, với phong cách tự nhiên của người dám sống thực và viết thực, Kiệt Tấn tạo dựng được một thế giới văn chương độc đáo mà trong đó nhân vật là những mẫu người sinh động, mà dấu ấn của thời cuộc cũng như cá tính của một người bất bình thường nhưng lại có nét đáng yêu của một nghệ sĩ với những nét lãng mạn riêng”[27].

Yếu tố tự truyện được Kiệt Tấn sử dụng có vai trò như một kênh đối thoại giữa người sáng tác và độc giả. Trong đó, nhờ đương dẫn tự truyện mà tác giả có thể bộc lộ, giãi bày cái tôi của mình và tri nhận sự đồng cảm, sẻ chia từ bạn đọc.

Bên cạnh đó, đến với truyện ngắn Kiệt Tấn, người đọc sẽ được bước vào thế giới của ái tình, của tình dục. Đây được xem như là nét khác biệt, là dấu ấn riêng của nhà văn Kiệt Tấn so với những cây bút khác trên văn đàn hải ngoại.

Đã có nhiều tác giả hải ngoại viết về tình yêu, tình dục nhưng có thể khẳng định rằng hầu như chưa có một nhà văn nào viết về tình ái – một vấn đề muôn thuở của loài người lại tinh tế, sâu sắc, thấm đượm nhân văn và đầy tính nghệ thuật như Kiệt Tấn đã viết. Điểu này được minh chứng qua những lời nhận xét, đánh giá của các nhà phê bình có uy tín trên văn đàn như Thụy Khê, Nguyễn Hưng Quốc, Đoàn Nhã Văn…Nguyễn Mạnh Trinh cho rằng “Văn chương về tính dục có lẽ là một nét hấp dẫn đặc thù riêng biệt khác của tác giả Kiệt Tấn. Những truyện ngắn của ông viết về những trai gái yêu nhau như Đêm Cỏ Tuyết, Sáng Dậy Nghe Em Khóc, như Thương Nàng Bấy Nhiêu …đã khiến cho ông được nhắc nhở nhiều và có nhận định rằng truyện tình như kiểu của ông cũng khá hiếm hoi trong văn học Việt Nam” [27].

Đồng thời, Kiệt Tấn cũng thuộc trong số những nhà văn hải ngoại đánh trống, cầm cờ mở đường cho văn chương tình dục. Truyện nào của ông dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng đều nói đến tình ái “Truyện văn chương tình dục hầu như là sở trường của anh, như lẽ sống còn, như cái không thể thiếu được. Cái tôi trong truyện cũng là cái tôi của tác giả.Truyện như thể là thực với người thực, tên thực, không thèm hư cấu. Ít ai có lối viết như thế và can đảm nói ra như thế, đẩy ngòi bút vào những vùng cấm không chút ngượng ngùng (…) ở lãnh vực tình dục, có lẽ là chỗ Kiệt Tấn xông xáo nhất như chỗ phát huy và giải tỏa cái sống hết mình của tác giả?[7, tr. 619].

Đến với truyện tình Kiệt Tấn, người đọc sẽ thấy truyện tình của ông mang nhiều dáng vẻ, cung bậc khác nhau, có lúc buông tuồng dữ dội, say mê đến chất ngất, mãnh liệt đến quằn quại; lúc thì nhẹ nhàng, đằm thắm, hết sức mượt mà, lãng mạn.

Với Kiệt Tấn, tình dục là sự gắn kết, hòa hợp giữa nhục cảm và tình yêu. Hai phạm trù này thống nhất lẫn nhau, bổ sung cho nhau chứ không đơn thuần chỉ là nhục cảm xác thịt mà thôi “Với tôi, cái thể xác của người nữ là để ôm ấp, thưởng thức và chung vui. Còn cái “tinh anh” là để chiêm ngưỡng, trân quý và duy trì liên hệ. Có đi trọn vẹn đến cùng đối với các truyện tình Kiệt Tấn mới thấy cái vẻ bên ngoài tuy buông tuồng, sống sượng, trần trụi của ngôn ngữ tình dục đôi khi suồng sã gây khó chịu cho người đọc bởi cách viết táo bạo của tác giả nhưng ẩn sâu bên trong là một tình cảm thiết tha, đong đầy yêu thương, nhân bản và rất mực trân quý của Kiệt Tấn đối với thế giới tình cảm ẩn khuất trong tiềm thức của mỗi con người trong những hoàn cảnh sống khác nhau.

Chính vì nhục cảm và tình yêu hài hòa, gắn bó với nhau nên càng đi sâu vào truyện Kiệt Tấn, người đọc càng nhận thấy truyện ngắn của ông rất đậm dấu ấn của ái tình – một thứ ái tình vừa chân thật, mộc mạc lại vừa mê tơi, cuồng nhiệt.

Điều đặc biệt về văn chương tình dục của Kiệt Tấn so với các tác giả khác trên văn đàn hải ngoại là đối với ông, nhà văn cho rằng con người tìm đến tình ái – tình dục không chỉ đơn thuần là hưởng thụ cái hạnh phúc nguyên thủy, tự nhiên đẹp đẽ muôn đời của loài người mà đó còn là một cánh cửa, một con đường giúp họ tìm lại chính mình trong những lúc chênh vênh, mất “quân bình” trong cuộc sống. Hơn nữa tình ái còn giúp họ “vượt thoát khỏi nỗi cô đơn” đáng sợ, vượt qua những mặc cảm thân phận đang ghì chặt lấy cuộc sống đầy quẩn quanh và bế tắc.

Có thể thấy rằng, tình ái – tình dục trong quan niệm của kiệt Tấn mang một giá trị nhân văn rất sâu sắc vì nó luôn hướng đến con người, trân trọng con người. Đây là điều mà mấy ai có thể làm được như nhà văn Kiệt Tấn .

Sự điêu luyện và bản lĩnh cao của người viết chính là trân trọng độc giả và thêm điều quan trọng cần có cái “tâm và tài” khi viết về tình dục. Như thế mới không gây “dị ứng” nơi bạn đọc, không sa vào cái nhìn phiến diện, một chiều của tình dục. Vẻ đẹp của truyện tình Kiệt Tấn vừa khơi gợi lại vừa ẩn giấu, vừa phô bày lại rất quyến rũ, tình dục phải thật sự thuộc về tự nhiên. Đó là điều thật khó cưỡng khi đến với truyện tình của ông.

Đọc truyện ngắn Kiệt Tấn, điều gây ám ảnh nhất đối với người đọc đó chính là sự cô đơn. Nỗi cô đơn thấm đẫm trên từng trang viết, ẩn vào từng phận người nhỏ bé.

Đối với Kiệt Tấn nỗi cô đơn chính là nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất, đáng sợ nhất, dai dẳng trong tâm trí con người nhiều nhất.

Con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn không chỉ mang nỗi cô đơn bản thể muôn kiếp của loài người, đời đời kiếp kiếp không thể phá bỏ như một lời nguyền mà đó còn là nỗi cô đơn của mặc cảm thân phận khi phải sống kiếp sống lưu vong; cô đơn vì không được trở về quê hương, xứ sở và bị mắc kẹt trong một tâm thế bị động hoàn toàn; cô đơn vì không dung hòa được với môi trường mới; bị “lệch chuẩn” so với tâm lý của đám đông.

Sống ở một đất nước có quá nhiều khác biệt về văn hóa và thể chế xã hội. Con người dần thu mình lại, sống khép kín trong một cái vỏ ốc bức bối của chính mình. Đó là một hiện thực chung mà hầu hết những con người xa xứ đều phải dũng cảm đối diện đấy chính là cảm thức lạc loài, ly hương khi phải lìa xa quê cha đất tổ để đến định cư tại một miền đất mới, xa lạ.

Nhân vật tôi trong các tập truyện ngắn của Kiệt Tấn đang ở trong một hiện thực bị “đông cứng” khi không thể nào hòa nhập được một cách trọn vẹn với môi trường sống ở phương Tây, với một nền văn hóa khác, với những con người khác và hệ quả của tình trạng đó là tất thẩy họ đều cảm thấy bất lực trước thực tại sống không như mình mong muốn, thậm chí là tuyệt vọng. Từ đó họ rơi vào trạng thái “sống mòn”, chỉ chực chờ có cơ hội là con virut đáng sợ mang tên cô đơn sẽ phá hủy tinh thần của những con người tha hương.

Có thể thấy, truyện ngắn Kiệt Tấn ăm ắp ái tình và thấm đẫm nỗi cô đơn đến cùng cực. Đây chính là dấu ấn riêng, tạo nên nét độc đáo, sự khác biệt của Kiệt Tấn so với những cây bút khác trên văn đàn hải ngoại.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KHOA HỌC XH&NV\LE THI HOAI HAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *