Tác giả hàm ẩn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà

Tác giả hàm ẩn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà

Tác giả hàm ẩn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà

1. Lý do chọn đề tài

Nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay đã có nhiều bước chuyển đáng ghi nhận.Trên con đường đó tiểu thuyết đã để lại dấu ấn khá sâu đậm. Không chỉ dừng lại ở những nhà văn mang đậm nét truyền thống như:Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, những cây bút có nhiều nét mới: Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh,.. nhà văn có những cách tân trong văn xuôi đương đại đáng chú ý là Tạ Duy Anh,Nguyễn Bỉnh Phương, Hồ Anh Thái, và Nguyễn Việt Hà…Nguyễn Việt Hà đang tự đổi mới mình và tạo ra những nét khác biệt trong tiến trình vận động của văn xuôi đương đại Việt Nam.

Với các khuynh hướng tiếp cận, nghiên cứu tác phẩm văn học phong phú, đa dạng được vận dụng vào nước ta hiện nay như: phê bình ấn tượng chủ nghĩa, tiểu sử học, văn hóa học, xã hội học, cho đến chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, tự sự học…Tu từ học tiểu thuyết xuất hiện và được vận dụng để giải mã một vài hiện tượng văn học như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương…Nhà nghiên cứu Cao Kim Lan cho rằng đây là lý thuyết tiếp cận giàu tiềm năng nhưng chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Vận dụng lý thuyết Tu từ học tiểu thuyết để lý giải tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà là cách tiếp cận có thể mang lại kết quả mới.

Tác giả hàm ẩn là một khái niệm then chốt trong lý thuyết của Booth.Đây là một phương pháp tuy không xa lạ trên thế giới, nhưng là phương pháp còn mới khi nghiên cứu ở nước ta.Mặc dù tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà không nhiều, chỉ với ba cuốn: Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, Ba ngôi của người, song đó là những “viên ngọc” quý tạo nên đặc điểm riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn. Chúng tôi chọn đề tài tiểu thuyết nguyễn Việt Hà – nhìn từ Tu từ học tiểu thuyết sẽ góp phần khai thác chiều sâu tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà. Đây là bước đi mới áp dụng lý thuyết Tu từ học tiểu thuyết vào tác phẩm của nhà văn, người đã để lại những trang viết đầy mới lạ và độc đáo. Một số bình diện chủ yếu của Tu từ học tiểu thuyết được soi chiếu ở đây gồm: tác giả hàm ẩn và người kể chuyện, tác giả hàm ẩn và điểm nhìn trần thuật…

Từ những lý do nêu trên chúng tôi chọn đề tài “ Tác giả hàm ẩn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà” để thực hiện luận văn Thạc sĩ.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng: Đối tượng của đề tài là ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà:Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn và Ba ngôi của người.

– Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu là ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà với tác giả hàm ẩn từ lý thuyết Tu từ học tiểu thuyết trên các bình diện người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật của Tu từ học tiểu thuyết dưới sự chi phối then chốt là tác giả hàm ẩn.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong công trình này chúng tôi sử dụng phương pháp:

– Phương pháp cấu trúc – hệ thống,

– Phương pháp so sánh,

– Phương pháp phân tích, tổng hợp,

– Lý thuyết: Tu từ học tiểu thuyết, thi pháp học, tự sự học.

5. Đóng góp của luận văn

Luận văn ứng dụng lý thuyết còn khá mới khi nghiên cứu, tiếp cận với tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà để có cái nhìn đa dạng hơn, mới hơn về tác giả đang được nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Ngoài ra khi ứng dụng tác giả hàm ẩn của lý thuyết Tu từ học tiểu thuyết với tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, luận văn góp phần lý giải những cách tân trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà. Nếu luận văn thành công thì đây là một tài liệu tham khảo bổ ích cho những người nghiên cứu tiếp theo về tác giả này.

6. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Tu từ học tiểu thuyết và tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà.

Chương 2: Tác giả hàm ẩn và người kể chuyện, trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà.

Chương 3: Tác giả hàm ẩn và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà.

CHƯƠNG 1

TU TỪ HỌC TIỂU THUYẾT VÀ TIỂU THUYẾT

NGUYỄN VIỆT HÀ

    1. . VỀ LÍ THUYẾT TU TỪ HỌC TIỂU THUYẾT

Tu từ học tiểu thuyết cũng là một khuynh hướng được nhiều người chú ý và dành sự quan tâm đặc biệt. Nền tảng của Tu từ học tiểu thuyết chính là tu từ học. Từ thời Aristote, tu từ học và thi pháp học là hai ngành tách rời nhau, nhưng khi đến thời hiện đại thì thi pháp học ngày càng gắn chặt với tu từ học. Chính điều này cho thấy có sự giao thoa, kế thừa giữa các ngành nghiên cứu.

Trong Tu từ học tiểu thuyết, mọi lập luận mà W. Booth đưa ra đều tập trung vào mục tiêu: Nó có thực sự đem lại thành công và hấp dẫn cho tác phẩm hay không? Hàng loạt vấn đề như kể (telling) hay là trình hiện (showing) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để làm nổi bật những mặt nổi bật của tiểu thuyết hiện đại.

Tác giả hàm ẩn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Tác giả hàm ẩn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà

+ Kể và trình hiện

Trong Tu từ học tiểu thuyết, mọi lập luận mà W. Booth đưa ra đều tập trung vào mục tiêu: Nó có thực sự đem lại thành công và hấp dẫn cho tác phẩm hay không? Hàng loạt vấn đề như kể (telling) hay là trình hiện (showing) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để làm nổi bật những mặt nổi bật của tiểu thuyết hiện đại.

Trong công trình nghiên cứu của mình W. Booth đã chỉ ra, một tình tiết được trình hiện rất dễ dàng chứng minh được sẽ có tác động hơn so với một tình tiết tương tự được kể, với điều kiện lựa chọn giữa hai, hoặc chỉ hai đối cực mang tính kĩ thuật.

+ Tác giả hàm ẩn.

Ở đây, W. Booth đã giải thích khái niệm tác giả hàm ẩn như là “hạt nhân của những tiêu chuẩn và sự lựa chọn” trong văn bản, như là “một kiểu ẩn tàng” của tác giả thực trong tác phẩm. Dấu vết của tác giả hàm ẩn in đậm trong hệ thống các nguyên tắc xây dựng truyện kể. W. Booth đã chứng minh rằng, việc sử dụng những lời bình luận xác thực, tin cậy, kỹ thuật kể (telling) như trình hiện với người kể chuyện kịch hóa, tin cậy và không đáng tin cậy, và việc tạo dựng, điều khiển những khoảng cách giữa các yếu tố, các cấp độ truyện kể…sẽ bị chi phối bởi tác giả hàm ẩn.

+ Về mối quan hệ tác giả- văn bản- bạn đọc.

W. Booth đã xác lập một cách rõ ràng mối quan hệ giữa tác giả – văn bản – bạn đọc. Tính ngự trị của văn bản bắt nguồn từ các quyết định có ý thức hoặc vô thức mà tác giả tạo ra nhằm định hướng cho sự hồi đáp của độc giả. W. Booth nhấn mạnh rằng, tác giả tác động đến người đọc với tư cách là người kết nối cảm xúc, và xác định giá trị của nó đối với bạn đọc.Và ngược lại, độc giả cũng phản ứng với những biểu hiện về giọng điệu của người viết trong văn bản. Qua tu từ học, W. Booth đã cho thấy cách thức một cuốn sách giao tiếp với độc giả như thế nào.

+ Người kể chuyện theo Tu từ học tiểu thuyết.

Đến W. Booth thì người kể chuyện trở thành “công cụ” không thể thiếu của tác giả hàm ẩn, người thực thi những ý tưởng nghệ thuật của tác giả hàm ẩn.

Tu từ học tiểu thuyết là một hướng tiếp cận hứa hẹn mang lại cho chúng ta những nhận thức và kiến giải mới liên quan đến tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà nói riêng. Trong khuôn khổ luận văn chúng tôi vận dụng lý thuyết về tu từ học tiểu thuyết để giải mã tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà. Dù biết lý thuyết này có những giới hạn nhất định nhưng chúng tôi cũng thử nghiệm vận dụng một lý thuyết được nhiều người quan tâm ở Phương Tây vào văn học Việt Nam hiện đại. Những thử nghiệm bao giờ cũng cần thiết và có sức hấp dẫn với người nghiên cứu.

    1. . HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO TIỂU THUYẾT NGUYỄN VIỆT HÀ

1.2.1. Ý thức cách tân tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Tiểu thuyết sau 1986 yếu tố cốt truyện được nới lỏng, không còn được coi trong như trước. Kết cấu tiểu thuyết trở nên đa dạng hơn. Có những tác giả viết tác phẩm ra dựa vào kết cấu truyện lồng truyện như Thuận, Nguyễn Việt Hà, hay là dựa vào dòng hồi ức của nhân vật như tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh. Tất cả tạo nên những sự đa dạng trong bức tranh tiểu thuyết.

Dẫu biết rằng tạo lập cái mới để thay thế cái cũ không phải là dễ và bạn đọc sẽ hi vọng vào những bước đi mới của tiểu thuyết Việt Nam trên con đường hội nhập văn hóa thế giới, một nền văn hoá tiên tiến giàu bản sắc dân tộc, những yếu tố tích cực mới mẻ thích hợp đời sống văn học dân tộc đương đại đang dần định hình bổ sung cho lý thuyết cũ đủ sức soi chiếu cho các trào lưu văn chương, thu hút các tác giả và các sáng tác vào quỹ đạo của nó. Dẫu khó tính đến đâu cũng nhận thấy là sự tiếp thu cái mới đã làm cho diện mạo văn xuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn) thời kỳ sau này khác xa các thời kỳ trước.

Bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm thể loại, tiểu thuyết sau đổi mới 1986, vượt qua khung cấu trúc thể loại, đã đa dạng hóa các kiểu hình nhân vật, mở rộng khả năng khám phá nhiều mặt khác nhau trong con người, thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, nhằm đột phá và kiến giải một “thực tại mới”. Điều này khiến tiểu thuyết khẳng định được bước tiến của thể loại với nhiều thành tựu nổi bật hơn cả so với thơ và truyện ngắn, nhất là ở giai đoạn văn học sau 1986, trong hành trình phát triển của toàn bộ nền văn học Việt Nam.

1.2.2 Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi đương đại.

Nguyễn Việt Hà là nhà văn viết không nhiều và viết chậm, tuy nhiên mỗi tác phẩm của anh lại mang tầm bao quát rộng, tính triết lý sâu sắc. Nhà văn viết những điều không phải để người đọc thích thú mà anh viết nhiều về những điều buộc người ta phải suy nghĩ. Với tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, chúng tôi nhận thấy tư duy biểu đạt của nhà văn chính là hành trình tăng dần tính ký hiệu, các hình ảnh biểu tượng, sự vật lộn trăn trở tìm kiếm ngôn ngữ riêng, điểm nhìn riêng để thể hiện các sự kiện, vấn đề liên quan tới muôn mặt đời thường trong cuộc sống đô thị nhốn nháo trong đó mỗi con người cá nhân chứa không ít nghịch lý, phàm tục… qua ngòi bút của Nguyễn Việt Hà tất cả đều được hiện lên với giọng văn giễu cợt, bất kỳ nhân vật là trí thức thật- trí thức “ dỏm”, đàn ông – đàn bà, thương gia, văn sĩ, diễn viên, người mẫu …

a. Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà

Ở tiểu thuyết Cơ hội của Chúa– tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên của Nguyễn Việt Hà đã sử dụng cấu trúc lồng. Sự sáng tạo tiếp nhận những thành công về hình thức của văn học thế giới đã làm nên những nét mới trong tác phẩm của anh. Trong tiểu thuyết này có sự xuất hiện kịch, thư từ, nhật ký, truyện ngắn, tất cả tồn tại độc lập, không có sự dẫn dắt nhưng nó tạo ra giá trị thẩm mĩ nhất định khi thể hiện được “ cảm thức tôn giáo” của Nguyễn Việt Hà. Sử dụng cấu trúc truyện ngắn trong tác phẩm đã làm cho tiểu thuyết được giãn ra giảm độ “căng” cho tác phẩm.Thành công sử dụng hình thức “liên thể loại” này tiếp tục được vận dụng ở tiểu thuyết thứ hai của anh- Khải huyền muộn.

Với cuốn tiểu thuyết thứ ba Ba ngôi của người tác giả đã viết những gì mình đang băn khoăn, đang day dứt về sự xuống cấp của những con người trong thời đại kinh tế thị trường. Xã hội hiện đại bao nhiêu thì có bấy nhiêu hệ lụy phía sau.Với nghệ thuật trần thuật anh đã để cho người đọc thấy được sự việc một cách khách quan, chiêm nghiệm cùng tác giả. Ý thức được trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong hình thức thể hiện của tiểu thuyết nên trần thuật là yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của Nguyễn Việt Hà. Tác giả đã thể hiện một lối kể “không lừa bịp”- nghĩa là kể sự việc một cách trần trụi, thô ráp, thẳng băng. Ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự thông qua đối thoại. Nhờ đối thoại mà các vấn đề trong tác phẩm đặt ra dưới những điểm nhìn khác nhau.

Luân hiên điểm nhìn cũng là một trong những nét nổi bật trong quá trình sáng tạo của Nguyễn Việt Hà.Tạo cho tác phẩm sự khách quan nhận xét về nhân vật cũng như bản phối đa âm và lôi cuốn bạn đọc.

b. Quan niệm về hiện thực, con người

Hiện thực trong quan niệm của Nguyễn Việt Hà không phải là một hiện thực đơn giản xuôi chiều, mà bộn bề lo âu và gai góc. Một hiện thực được soi xét, quy chiếu từ nhiều góc độ khác nhau nhưng nó chỉ là một phương tiện để nhà văn trình bày những suy tư, khắc khoải của mình về hai chữ “con người”. Quan niệm hiện thực thay đổi sẽ dẫn tới những cách đổi mới trong cách đánh giá về con người. Văn học chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự và đặc biệt quan tâm đến con người cá nhân trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể.

Hiện thực đa chiều, con người đa đoan, đa sự. Con người hiện lên như nó vốn có. Con người trong văn học bây giờ “thật là người hơn”. Mỗi con người luôn tồn tại những thái cực: cái cao thượng – cái thấp hèn, cái lạnh lùng tàn nhẫn- cái nhân hậu trong sáng… Nguyễn Việt Hà đã đưa đến cho người đọc cái nhìn không đơn giản về con người. Cũng vẫn là những trí thức trẻ nhưng khi đi vào tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà họ đại diện cho cả một bộ phận trong tầng lớp của mình, vì là trí thức nên họ tiềm ẩn một sức mạnh tinh thần khủng khiếp.

CHƯƠNG 2

TÁC GIẢ HÀM ẨN VÀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG

TIỂU THUYẾT NGUYỄN VIỆT HÀ

2.1. TÁC GIẢ HÀM ẨN, NGƯỜI KỂ CHUYỆN THEO TU TỪ HỌC TIỂU THUYẾT

Theo W. Booth, tác giả hàm ẩn là người có vai trò tối cao, anh ta là người mang tư tưởng, anh ta có mục đích riêng, có hiểu biết về những quy định, phép tắc diễn ngôn, anh ta nắm được những nguyên tắc phản ánh của nghệ thuật, anh ta biết được các thủ pháp nghệ thuật thuyết phục người khác, anh ta nung nấu một ý đồ. Tác giả hàm ẩn tạo ra tác phẩm nghệ thuật, anh ta không được phép “ nhảy “ vào trong sáng tạo ấy mà anh ta phải giấu mình đi. Và chỉ có thể phô bày mình trong từng chi tiết nghệ thuật.

Tác giả hàm ẩn là một khái niệm thiết yếu, có thể suy ra người viết văn bản theo một cách thức cụ thể (quá trình mã hóa) và hình ảnh về người viết văn bản được coi là người suy luận ra (quá trình giải mã). Vì vậy, sự phân biệt giữa tác giả hàm ẩn và tác giả thực là sự phân biệt đơn giản một người trong quá trình viết.

2.1.2. Người kể chuyện theo Tu từ học tiểu thuyết

Tu từ học tiểu thuyết thừa nhận tất cả những cách tiếp cận nội quan của phương pháp cấu trúc luận và những lí giải về người kể chuyện dựa trên các cấp độ giao tiếp mà tự sự học đã đề ra. Tuy nhiên, mọi phân tích, lí giải theo quy luật vận động nội tại những diễn giải xuất phát từ các tầng bậc giao tiếp của văn bản còn phải xem xét như một nhân tố mang giá trị biểu cảm. Tùy thuộc vào từng văn bản nghệ thuật cụ thể, sự hiện diện của người kể chuyện với những sắc thái riêng biệt gắn với ngữ cảnh nhất định sẽ xác lập giá trị biểu đạt khá.Có thể nói người kể chuyện đã có được quyền năng nhưng nó đang ẩn giấu trong truyện kể nhưng đòi hỏi sự thử nghiệm, nó thực sự phức tạp và cũng như chứa đựng, kích thích khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ và độc giả. Nó có chỗ đứng, vị trí còn phụ thuộc vào từng kiểu loại tác phẩm bởi suy cho cùng nó là sản phẩm của hư cấu. Tạo nên dấu ấn, thành công của tác phẩm cũng chính nhờ vào con người đó.

2.1.3.Về mối quan hệ giữa tác giả hàm ẩn, người kể chuyện và điểm nhìn

Điểm nhìn trong truyện kể không đơn thuần là vị trí quan sát và kể. Điểm nhìn gắn chặt với người kể chuyện và điều quan trọng là nó mang tư tưởng và ý thức hệ của nhà văn. Sự lựa chọn người kể chuyện, vị trí quan sát, và cách thức kể sẽ mang đậm dấu ấn của người nghệ sĩ. Tồn tại với tư cách một công cụ do ‘ nhà văn” hư cấu nhằm truyền tải một thông điệp nào đó, việc lựa chọn kiểu người kể chuyện không phải ngẫu nhiên mà hoàn toàn mang “tính quan niệm”. Từ sự lựa chọn mang tính quan niệm này, người kể chuyện sẽ chi phối đến việc thiết lập cơ chế vận động nội tại tác phẩm nghệ thuật: xây dựng cốt truyện, xác lập điểm nhìn, phương thức kể, ngôn ngữ người kể và ngôn ngữ nhân vật…

Một điểm dễ nhận thấy, hầu hết những nghiên cứu điểm nhìn đều chú trọng vào người kể chuyện và phân loại thành nhiều kiểu người kể chuyện, chẳng hạn như đó là kiểu người kể chuyện ngôi thứ nhất hoặc ngồi thứ ba, người kể chuyện toàn tri hoặc toàn tri một phần ( Partially omniscient) hoặc có giới hạn (Limited), người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong hoặc bên ngoài, người kể chuyện kịch hóa, hoặc người kể chuyện phi kịch hóa. Người kể chuyện là các nhân vật trong truyện hoặc là không.

2.2. QUAN NIỆM TU TỪ HỌC TIỂU THUYẾT VỀ TÁC GIẢ HÀM ẨN

2.2.1. Tác giả hàm ẩn người thiết lập cấu trúc văn bản

Khi tiếp xúc với văn bản nghệ thuật là ta đang tiến hành giải mã các hệ thống kí hiệu đang được mã hóa.Trong quá trình giải mã ấy chân dung tác giả cùng với sự chi phối của anh ta in dấu trong từng chi tiết của tác phẩm sẽ hiển lộ, và khi đó, chúng ta có thể mô tả quy trình mã hóa và nhận ra sự chỉ dẫn ngầm của tác giả hàm ẩn -“ người đạo diễn”, kẻ đứng sau tất cả mọi chuyện đang diễn ra trong nghệ thuật văn chương.Tác giả không thể nhảy vào tác phẩm và tuyên bố trực tiếp quan điểm của mình. Anh ta phải tạo ra một hình ảnh của bản thân thông qua hệ thống cấu trúc văn bản tác phẩm nghệ thuật, lấy ngôn ngữ làm chất liệu. Trong quá trình sáng tác một tác phẩm cụ thể như thế, bản thân nhà văn phải rời bỏ con người thật của mình và tạo ra một con người khác. “con người tác giả”, luôn đứng ngoài và chỉ có chủ thể tham gia vào hành động truyện.Vì vậy, chúng ta không thể định danh và không tìm ra thuộc tính vật chất để nhận biết tác giả hàm ẩn.Tác giả hàm ẩn sẽ tồn tại với hai mặt: một hình ảnh tác giả do người đọc kiến tạo nên – hình tượng tác giả; và mặt khác tác giả hàm ẩn với tư cách người điều khiển, kiến tạo nên tác phẩm.

2.2.2. Tác giả hàm ẩn người mang theo khát vọng tư tưởng.

Tư tưởng là ý nghĩ hoặc suy nghĩ về một hay nhiều vấn đề mà nhà văn quan tâm, được biểu hiện qua cách nhìn, cách suy nghĩ của tác giả. Tư tưởng của một nhà văn nói chung là sự suy nghĩ, sự xem xét, cách nhìn, cách hiểu, những ý kiến của nhà văn đó về văn chương và những vấn đề văn chương. Điều đó nảy sinh trong óc nhà văn, trong thực tiễn sáng tác của ông ta. Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: tư tưởng nghệ thuật là cái riêng của nhà văn. Tìm hiểu về tư tưởng của Thạch Lam ta thấy khát vọng về văn chương, về tác động của văn chương với người đọc thật sâu sắc.

2.3. TÁC GIẢ HÀM ẨN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN VIỆT HÀ

Thứ nhất thể hiện qua kết cấu, kết cấu chính là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong chỉnh thể tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các đơn vị nghệ thuật, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định.

Khẳng định vai trò chủ thể từ tác giả hàm ẩn, chúng ta sẽ nhận ra sự quy chiếu hiển nhiên của tác giả ở mỗi tác phẩm. Mọi thủ pháp nghệ thuật được đưa vào tác phẩm đều là chủ ý của tác giả hàm ẩn. Dù không lộ diện, không thấy được dung mạo của tác giả hàm ẩn nhưng người đọc lại cảm nhận được và hình dung ở tâm hồn, tính cách, khí chất của tác giả hàm ẩn.

2.3.1. Tác giả hàm ẩn – người tổ chức kết cấu tiểu thuyết

+ Kết cấu phân mảnh, đứt gãy, gián đoạn.

Với dụng ý nghệ thuật của mình, tác giả hàm ẩn đã xây dựng kết cấu theo tinh thần phân mảnh. Trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà kết cấu tác phẩm được tổ chức thành từng phần ngắn, lỏng lẻo. Sự kiện rời rạc, có phần vụn vặt giữ vai trò ngang hàng với nhau và cùng xuất hiện trong những khoảng giới hạn về thời gian và không gian. Ở kết cấu phân mảnh các nhân vật hay cốt truyện có vai trò là cái trục chính dẫn dắt cách tạo truyện, hiện thực phân mảnh là yếu tố xương sống của kết cấu này. Tác giả hàm ẩn thường hướng vào những mảnh vỡ hiện thực, những “ tiểu tự sự” của cuộc sống hiện đại. Hiện thực mà anh quan tâm là hiện thực ngổn ngang, đa chiều, nhiều phức tạp và luôn biến đổi không ngờ, không biết đâu là điểm cuối cùng.

+ Kết cấu lồng ghép nhiều mạch truyện.

Trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà luôn có sự đan xen nhiều mạch truyện quá khứ, hiện tại, những chiêm nghiệm của con người về cuộc sống. Tác giả đang cố gắng tái hiện những ngỗn ngang, xô bồ hỗn loạn bất tín trong cuộc sống của con người trong xã hội hiện đại.

Chọn những mạch truyện đơn giản, nhưng tác phẩm được mở rộng ra bằng những câu chuyện chêm xen. Nhà văn cũng trở thành nhân vật khi tham gia vào câu chuyện, ngoài đóng vai ngôi kể tác giả, câu chuyện giữa những nhân vật khác cũng trở thành một mạch độc lập. Theo Tạ Duy Anh “ cảm giác tùy tiện, xộc xệch” trong Cơ hội của Chúa nằm trong ý đồ của tác giả hàm ẩn. Đến Khải huyền muộn cuốn tiểu thuyết được tạo bằng một loạt chuyện dang dở của chính nó. Ba ngôi của người thì có sự luân phiên giữa đối thoại, cũng như độc thoại nội tâm, và có cả sự đồng hiện giữa những kiếp luân sinh. Chàng trai phố cổ có thể đi từ hiện thực- quá khứ, từ dương thế- âm ty.

2.3.2. Tác giả hàm ẩn và nhân vật.

Các nhân vật trong tiểu thuyết của anh là những con người tầm thường, cụ thể, ở nhiều cấp độ khi tác giả tiếp cận với hiện thực cuộc sống đã nhận ra. Nhân vật đó là những mảnh vở mà khi góp lại, tập hợp lại thì hiện lên đầy đủ một bức tranh lớn về xã hội.

Tác giả chú trọng vào cách xây dựng nhân vật, không ở những nguyên tắc hay lối bắt buộc độc giả phải theo dõi một nhân vật suốt một đời nhân vật nữa, Cũng không có kiểu nhân vật cực xấu, hay cực tốt nữa.Trong khoảng thời gian được thu rút lại, câu chuyện gói ghém trong thời gian ngắn đủ để bộc lộ tính cách đa dạng và tồn tại song hành cả mặt tốt- xấu của nó.

2.4. NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN VIỆT HÀ

2.4.1. Người kể chuyện

Ở cả ba cuốn tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, người đọc đều thấy tác giả sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Sử dụng phương pháp trần thuật luân phiên ở nhiều điểm nhìn ở ngôi thứ nhất đó là cái mới trong sáng tác của anh.Vì thế nó tạo nên được tính đa thanh của tiểu thuyết. Ngoài người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi. Người đóng vai người kể chuyện ở ngôi thứ ba đó chính là tác giả hàm ẩn, hay người kể biết tuốt, đan xen, luân chuyển điểm nhìn, tạo thành bản hợp xướng mang lại những giá trị thẩm mĩ cao cho tác phẩm.

CHƯƠNG 3

ĐIỂM NHÌN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN VIỆT HÀ

3.1. ĐIỂM NHÌN TRONG TU TỪ HỌC TIỂU THUYẾT

TS. Cao Kim Lan đã nhận xét về quan niệm điểm nhìn khá tiến bộ của W. Booth: “Vấn đề điểm nhìn luôn gắn liền với việc xác lập các phương thức kể và người kể chuyện. Vì vậy, trước khi xem xét điểm nhìn như một bình diện của tu từ học tiểu thuyết, tức là chịu sự điều khiển của tác giả hàm ẩn và là thời điểm xác lập cấu trúc truyện kể sau khi đã lựa chọn một kiểu người kể chuyện nhất định” [13, tr.267].

3.2. ĐIỂM NHÌN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYẾN VIỆT HÀ

3.2.1. Điểm nhìn không – thời gian

Với điểm nhìn về không gian, tác giả không chọn một đô thị rộng lớn chung chung, mà là một Hà Nội với sự thay đổi của đô thị thời kỳ đổi mới.Trong không gian chật hẹp của đô thị, anh viết về Hà Nội- một thành phố hòa bình nhưng không hề yên bình. Anh tiếc nuối những giá trị văn hóa của người Hà Nội cứ dần bị mai một, bào mòn thêm mới. Với Điểm nhìn không – thời gian như thế không chỉ giúp tác giả cập nhật những hiện thực ai cũng đa biết mà còn đi sâu khám phá những mảng khuất lấp của hiện thực, phơi bày ra để mọi người cùng thấy.

Thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà là sự đan xen, trộn lẫn quá khứ – hiện tại. Ở đó thể hiện cao nhất sự phân thân trong đời sống tinh thần của con người đời tư thế sự, nhiều lo âu, đầy trải nghiệm.

3.2.2. Điểm nhìn về nhân vật – người kể chuyện.

Người kể chuyện có vai trò kết nối tất cả các sự kiện, những tình huống, trạng thái, những bất ổn, suy nghĩ, những khát vọng và cả những kí ức hoài niệm ngày xưa cũ cũng không nhạt nhòa.Trong Cơ hội của chúa, Nguyễn Việt Hà lại sử dụng gấp bội điểm nhìn – cùng 
một lúc tồn tại nhiều điểm nhìn, các điểm nhìn cùng lúc chồng lên nhau, đan chéo nhau để mở ra cho người đọc những khám phá mới về đối tượng. Tác giả xây dựng nhiều trường nhìn, bên cạnh trường nhìn của người kể chuyện, các nhân vật trong tác phẩm xưng “tôi”, mỗi tôi là một cuộc đời, suy nghĩ và có cách sống riêng nhưng đan xen với nhau.

3.2.3. Luân phiên điểm nhìn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà

Điểm nhìn là vấn đề cơ bản, then chốt của kết cấu, phù hợp cách nhìn, cách cảm của tác giả. Nhà văn khi kể lại câu chuyện phải lựa chọn một ví trí thích hợp nào đó để quan sát, miêu tả và có thể tham gia trực tiếp vào sự kiện cốt truyện hoặc đứng ngoài sự kiện. Vị trí nhà văn chọn ấy sẽ xác lập cho người kể chuyện một điểm nhìn trần thuật để bắt đầu câu chuyện.

Ở cả ba tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà đều sử dụng ngôi trần thuật ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Khi trần thuật ở ngôi thứ nhất thế giới tâm hồn của nhân vật được tái hiện sinh động, nhiều lớp khác nhau sẽ khiến cho tác phẩm có khả năng lôi cuốn với độc giả. Ngược lại, trần thuật ở ngôi thứ ba thì không gian tâm lí, miêu tả những trạng thái vui buồn, những băn khoăn mà nhân vật không nói ra được.

KẾT LUẬN

Với tài năng và tâm huyết của mình Nguyễn Việt Hà đã khẳng định được mình với dấu ấn ba cuốn tiểu thuyết : Khải huyền muộn, Cơ hội của Chúa, Ba ngôi của người. Ở ba cuốn tiểu thuyết này tác giả hàm ẩn đã làm cầu nối để truyền tải tư tưởng, quan niệm, cùng như những nỗi niềm của tác giả thực.

Tác giả hàm ẩn là khái niệm then chốt, một chiến lược quan trọng trong nghiên cứu của Booth về truyện kể. Dấu vết của tác giả hàm ẩn in đậm trong từng chi tiết nhỏ của tác phẩm.Chúng tôi khi nghiên cứu về tác giả hàm ẩn được soi chiếu trong tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà đã đi vào tìm hiểu về tác giả hàm ẩn với mối quan hệ với người kể chuyện và điểm nhìn, ba yếu tố này luôn hòa quyện tạo nên sự độc đáo trong tác phẩm .

Người kể chuyện là “ công cụ” không thể thiếu để thực hiện “chiến lược” truyền tải tư tưởng của tác giả hàm ẩn. Và để cho các nhân vật tự kể chuyện vừa mang tính chủ quan vừa mang tính logic trên sự quy chiếu của mối quan hệ xã hội.Sự thay đổi ngôi kể từ thứ nhất sang ngôi thứ ba, cũng như sự đan xen ngôi kể đã tạo cho câu chuyển đa thanh và nhiều màu sắc hơn khi người đọc tiếp nhận.

Mặc dù có thể thấy tác phẩm của Nguyễn Việt Hà còn nhiều hạn chế: nhiều đoạn dàn trải, lan man, chưa chọn lọc, nhiều đoạn gây khó hiểu, ngôn ngữ pha lẫn gây, phức tạp.Nhiều người đọc chuẩn mực chưa thật sự hài lòng….Bên cạnh đó không thể phủ nhận sự đóng góp của anh cho tiểu thuyết đương đại.

Dù tác phẩm của Nguyễn Việt Hà chưa nhiều, nhưng ta hi vọng sẽ sớm được đón nhận những đứa con tinh thần của anh.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KHOA HỌC XH&NV\NGUYEN THI DUNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *