Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam

Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam

Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam

1. Lí do chọn đề tài

Truyện truyền kỳ có vị trí quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của văn học Việt Nam. Đây là một hiện tượng văn học độc đáo, kết tinh trong đó nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc. Nó là một dạng ký ức cộng đồng, nơi lưu giữ những vang bóng của lịch sử suốt hàng ngàn năm qua, ghi dấu các phong tục tập quán, những tín niệm thiêng liêng của người Việt. Nghiên cứu truyện truyền kỳ do vậy không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu nhận thức một loại hình văn học mà quan trọng hơn, còn giải mã ký ức văn hóa – lịch sử của một cộng đồng; cũng là một lối đi vào khám phá tâm thức, tâm hồn người Việt.

Nghiên cứu truyện truyền kỳ là hoạt động đã được giới chuyên môn bắt đầu từ lâu. Nhưng đây là một đối tượng hết sức phức tạp. Muốn hiểu thấu đáo, đầy đủ các giá trị của loại hình văn học này, đòi hỏi phải có nhiều hướng nghiên cứu, nhiều cách thức tiếp cận khác nhau. Cho đến nay, đã có rất nhiều những bài viết, công trình nghiên cứu có giá trị về truyện truyền kỳ được công bố, song vẫn còn nhiều vấn đề đang để ngỏ hoặc mới chỉ được đề cập một cách sơ bộ. Chính vì vậy, chúng tôi muốn kế thừa công việc của những người đi trước, tiếp tục tìm hiểu sâu hơn loại hình văn học này.

Xét về mặt cấu trúc, truyện truyền kỳ là những tác phẩm được hình thành trên cơ sở sự kiến tạo các loại môtip. Có rất nhiều môtip trở thành yếu tố đặc trưng của truyện truyền kỳ như môtip nhân quả, hoá thân, hiển linh, báo ứng… và đặc biệt là môtip kỳ ngộ. Chính môtip kỳ ngộ đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên sắc diện riêng của những câu chuyện truyền kỳ.

Nghiên cứu các dạng môtip trong tác phẩm văn học nói chung, môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ nói riêng không phải là vấn đề mới lạ. Ở các công trình nghiên cứu về truyện truyền kỳ Việt Nam từ trước tới nay, nhiều tác giả cũng đã ít nhiều đề cập. Tuy vậy, để xem xét một cách có hệ thống, chi tiết, cụ thể chỉ một yếu tố (môtip kỳ ngộ) thì hầu như chưa có ai tiến hành. Chính vì thế mà chúng tôi chọn Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam để làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Công việc này sẽ giúp chúng tôi có điều kiện tìm hiểu sâu sắc hơn di sản văn học truyền thống và ngoài ra còn có thể vận dụng vào công việc giảng dạy, học tập một cách hiệu quả hơn.

2. Lịch sử vấn đề

2.1. Những nghiên cứu chung về truyện truyền kỳ.

2.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là môtip kỳ ngộ. Đó là những cuộc gặp gỡ kỳ lạ đã trở thành những “khuôn mẫu” nghệ thuật; được tác giả sử dụng thường xuyên xảy ra với dụng ý nghệ thuật rõ ràng.

– Phạm vi nghiên cứu

Các tác phẩm được tập trung khảo sát gồm: Lĩnh Nam chích quái lục, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả, Tân truyền kỳ lục, Lan trì kiến văn lục.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điển hình (còn gọi là phương pháp chọn mẫu hay nghiên cứu trường hợp), phương pháp phân tích – tổng hợp để tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, phương pháp thống kê nhằm phát hiện tần suất xuất hiện các yếu tố cần khảo sát trong tác phẩm, phương pháp hệ thống – cấu trúc kết hợp phương pháp loại hình.

5. Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Truyện truyền kỳ trong đời sống văn hoá, văn học Việt Nam.

Chương 2: Các dạng thức chủ yếu của môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam.

Chương 3: Giá trị nghệ thuật của môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam.

CHƯƠNG 1

TRUYỆN TRUYỀN KỲ

TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ – VĂN HỌC VIỆT NAM

1.1. TRUYỆN TRUYỀN KỲ – DI SẢN VĂN HÓA, LỊCH SỬ

1.1.1. Khái niệm truyện truyền kỳ

Chữ truyền kỳ, hiểu một cách khái quát là truyện về các nhân vật – sự vật – sự việc kỳ lạ, khác thường. Xét về nghĩa từ, nguyên chữ truyền/ truyện kỳ trong Hán ngữ là để chỉ những gì khác lạ, phi phàm. Chúng được người đời truyền tụng, lưu hành trong các điều kiện không – thời gian khác nhau. Chữ “truyện” ban đầu cũng có nghĩa là một lối ghi chép nhân vật, sự kiện (sử truyện), về sau được hiểu là một thể loại văn học.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu kiểu loại văn học này, các học giả đã đưa ra nhiều cách hiểu. Điểm qua một cách sơ bộ các luận điểm của giới chuyên môn, cả trong nước lẫn nước ngoài, có thể nói rằng, khái niệm “truyện truyền kỳ” không đơn giản là từ dùng để chỉ/ gắn với một thể loại văn học. Khái niệm này có nhiều nghĩa khác nhau. Xét theo nghĩa khái quát, “Truyện truyền kỳ”, là một hiện tượng văn hoá, một loại hình văn học. Nếu xét theo nghĩa cụ thể, thì đó là một kiểu dạng/ thể loại tác phẩm văn xuôi thời trung đại. Thể loại văn học này có những đặc điểm nội dung, hình thức có tính chất khu biệt. Ở luận văn này, truyện truyền kỳ là một thể loại đặc biệt của văn học dân tộc.

Hiểu theo nghĩa cụ thể truyện truyền kỳ là những tác phẩm văn học viết về đất nước, con người Việt Nam. Đó là câu chuyện về những điều kỳ lạ, quái đản, khác thường (vốn tồn tại dưới dạng thần tích, thần phả, giai thoại, truyền thuyết…), được nhào nặn lại theo những “quy phạm riêng của thi pháp truyền kỳ”. [26, tr.92].

Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam
Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam

1.1.2. Đặc trưng loại hình truyện truyền kỳ

Đặc trưng về nội dung

Từ khái niệm về truyện truyền kỳ, ta có thể suy ra đặc trưng về nội dung của thể loại văn học này. Đó không gì khác ngoài những câu chuyện lạ về đất nước, con người Việt Nam trong quá trình lịch sử. Những chuyện lạ đó thực chất là những vấn đề văn hoá, những thứ liên quan đến chủ đề kỳ nhân và linh địa. Nhóm truyện kỳ nhân là những câu chuyện kể về các nhân vật đặc biệt, “các đấng bậc thuộc cõi “u linh”, về công trạng mà liệt vị hiền nhân đã góp vào trong quá trình dựng nước và giữ nước, hoặc cũng có thể là chuyện về các danh nhân, những người có tài lạ…”[26, tr.144]. Về bản chất, đó là những chuyện kể về các nhân vật siêu việt thuộc các lĩnh vực văn hoá, lịch sử của dân tộc ta. Thế giới nhân vật trong nhóm truyện thuộc chủ đề kỳ nhân rất đa dạng. Nổi bật là các bậc “thần nhân” rồi đến “danh nhân”, và cả “dị nhân”, “quái nhân”.

Bên cạnh kỳ nhân, nội dung lớn thứ hai trong truyện truyền kỳ là vấn đề linh địa. Đây là hai nội dung gắn bó với nhau một cách chặt chẽ. Bởi vì “địa” chỉ linh khi gắn với con người; địa linh vì nó liên quan đến “nhân” chứ nếu “địa” mà thiếu vắng con người thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Truyện truyền kỳ về thể tài linh địa, theo quan niệm của Nguyễn Phong Nam, là những câu chuyện về “hình sông thế núi, những vùng đất thiêng tàng ẩn hạo khí muôn đời; truyện về nơi sinh xuất những kỳ nhân, nơi nảy sinh những quái sự; truyện về những nơi chốn trở thành biểu tượng văn hoá, chứa các dấu tích dật sử, phong tục…” [26, tr.222].

Về nghệ thuật

Nói đến nghệ thuật truyện truyền kỳ, điều đáng kể hơn cả đó chính là cách xử lý mối quan hệ giữa hai yếu tố kỳ và thực trong tác phẩm. Kỳ ở đây có nghĩa là kỳ lạ, kỳ ảo. Yếu tố kỳ ảo được sử dụng rộng rãi trong nhiều tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại. Nói như Nguyễn Huệ Chi, “yếu tố kỳ ảo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức cũng như tạo cho tác phẩm cái vẻ riêng, hấp dẫn, có một sức mê hoặc kỳ lạ” [Huệ Chi, tr.25]. Cái kỳ trong thể loại truyền kỳ có vai trò như một phương pháp, một thủ pháp nghệ thuật: “Trong truyện truyền kỳ các tác giả sử dụng yếu tố kỳ không chỉ với chức năng vỏ bọc che giấu dụng ý sâu xa của nhà văn mà còn với tư cách một bút pháp nghệ thuật mang tính đặc trưng của thể loại… Bút pháp kỳ ảo còn cho phép nhà văn khám phá tâm hồn nhân vật ở một thế giới mà nó lạc vào, với một hoàn cảnh và những thử thách mới. Cũng ở trong thế giới đó, nhà văn thể hiện được lý tưởng của mình về lẽ công bằng xã hội, nơi cái ác bị trừng trị, cái thiện cuối cùng đã chiến thắng – điều mà họ không thể đạt được trong cuộc sống thực tại” [38, tr.91]. Các nhà văn trung đại đã sử dụng yếu tố kỳ như một thủ pháp nghệ thuật mang tính chủ đạo, kết hợp với yếu tố thực một cách nhuần nhuyễn để tạo nên những truyện truyền kỳ có nhiều ý nghĩa.

1.2. PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRUYỆN TRUYỀN KỲ

1.2.1. Phương thức “tân biên” và hư cấu trong truyện truyền kỳ

Có thể nói con đường hình thành truyện truyền kỳ khá phức tạp. Ở giai đoạn đầu, nó thường gắn với những yếu tố “tiền thân” gồm các tích truyện, giai thoại, truyền thuyết thuộc đời sống văn hoá – tín ngưỡng bản địa hoặc các môtip, giai thoại, tích truyện văn học nước ngoài. Các văn nhân, nho sĩ sẽ ký chép, nhuận sắc, gia công để có những truyện truyền kỳ. Càng về sau, sự hình thành theo phương thức hư cấu càng rõ, nó được sáng tạo hoàn toàn mới dưới dạng một truyện ký, một tiểu phẩm… xuất phát từ hạt nhân là những yếu tố “kỳ”, “linh”, “dị”. Phương thức hình thành truyện truyền kỳ phần nào phản ánh quá trình phát triển của loại hình văn học này và dĩ nhiên, nó sẽ chi phối sự hình thành những yếu tố nghệ thuật cấu thành nên tác phẩm mà cụ thể là các môtip được các tác giả truyền kỳ sử dụng trong tác phẩm của mình.

1.2.2. Quá trình phát triển của truyện truyền kỳ

* Giai đoạn thứ nhất: Cho đến nay, dựa vào các cứ liệu hiện có, có thể thấy những tác phẩm truyền kỳ được sáng tác sớm nhất (Thiền uyển tập anh ngữ lục, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục, Nam ông mộng lục) xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII. Ban đầu, các tác giả truyền kỳ dựa vào truyền thuyết và truyện dân gian để làm truyện. Nhìn một cách bao quát, nội dung xuyên suốt toàn bộ truyện văn xuôi nói chung, truyện truyền kỳ nói riêng chặng đầu này là “vấn đề dân tộc và vấn đề yêu nước”.

* Giai đoạn thứ hai của quá trình phát triển truyện truyền kỳ được tính từ khoảng thế kỷ XVI, XVII trở về sau. Đặc điểm của truyện truyền kỳ giai đoạn này là nhà văn lấy văn học dân gian làm nền tảng để sáng tạo, ít lệ thuộc vào tích truyện cổ. Đây được xem là bước phát triển mạnh mẽ của loại hình văn học này. Có thể tìm thấy điều này qua tác phẩm của Thánh Tông, Nguyễn Dữ, cho đến Nguyễn Hàng…. Cũng giống như giai đoạn đầu tiên, vấn đề dân tộc là vấn đề quán xuyến trong suốt hành trình văn học truyền kỳ ở giai đoạn thứ hai này. Tuy nhiên với Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả, Tân truyền kỳ lục, Lan trì kiến văn lục,…truyện truyền kỳ Việt Nam đã có những nét mới trong nội dung biểu hiện của mình. Các tác giả truyền kỳ ở giai đoạn sau đã lấy con người làm đối tượng, làm trung tâm phản ánh. Họ một mặt, khẳng định vị trí và giá trị con người, mặt khác, phản ánh số phận bi thương của những con người bị áp bức trong xã hội có áp bức bất công.

Với sự xuất hiện của hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), quá trình phát triển của truyện truyền kỳ đã tiến thêm một bước dài. Các tác giả đã dựa vào các môtip dân gian, hoặc trên cơ sở gợi ý của môtip dân gian để xây dựng nên một thế giới nhân vật mới, những câu chuyện mới. Nhờ đó, nhiều vấn đề xã hội phức tạp của xã hội đương thời đã được đưa vào tác phẩm. Tác giả cũng biểu lộ thái độ, cảm xúc của mình trước thời đại một cách trực tiếp hơn. Đây chính là bước phát triển mới về chất của truyện truyền kỳ.

* Giai đoạn thứ ba của quá trình phát triển truyện truyền kỳ là khoảng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Ở giai đoạn này, các đề tài chủ yếu ở giai đoạn trước vẫn được tiếp tục trong Truyền kỳ tân phả, Lan trì kiến văn lục, Việt Nam kỳ phùng sự lục…Ngoài ra, song song với đề tài về người phụ nữ, truyện truyền kỳ Việt Nam, trên hành trình phản ánh cuộc sống, còn viết về chủ đề tình yêu đôi lứa. Có thể nói, truyện truyền kỳ giai đoạn này còn là bản tình ca về sự chiến thắng của tình yêu.

Ở chương này, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát một số vấn đề mang tính lí thuyết về truyện truyền kỳ Việt Nam. Đây là một hiện tượng văn hóa, văn học rất độc đáo, được nảy sinh nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết thực của cộng đồng. Truyện truyền kỳ là những tác phẩm văn xuôi chữ Hán viết về lịch sử, đất nước, con người Việt Nam. Đó là câu chuyện về những điều kỳ lạ, quái đản, khác thường (vốn tồn tại dưới dạng thần tích, thần phả, giai thoại, truyền thuyết…), được nhào nặn lại theo những “quy phạm riêng của thi pháp truyền kỳ”.

Truyện truyền kỳ được hình thành theo hai phương thức chủ yếu. Đó là “tân biên”, làm mới những tích truyện, những yếu tố văn học dân gian vốn tồn tại theo lối truyền khẩu bằng các truyện ký Hán văn và những sáng tác bằng trí tưởng tượng, hư cấu của các nhà Nho. Nó có một quá trình phát triển lâu dài, theo từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn như vậy lại có những nét riêng cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Giai đoạn đầu, truyện truyền kỳ thiên về ghi chép các sự tích, thần tích. Nó mang đậm tính chất của những tác phẩm văn học chức năng. Ở những giai đoạn sau, nó chuyển dần sang phương thức hư cấu, sáng tạo. Dù phương thức khác nhau nhưng đều hướng đến những vấn đề cụ thể của đời sống cộng đồng, tập trung vào hai nhóm chủ đề là chuyện kỳ nhân và chuyện linh địa. Nói một cách khái quát, truyện truyền kỳ là một dạng ký ức văn hóa, ký ức lịch sử dưới hình thức những câu chuyện kỳ quái, linh diệu.

CHƯƠNG 2

CÁC DẠNG THỨC CHỦ YẾU CỦA MÔTIP KỲ NGỘ TRONG TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM

2.1. MÔTIP KỲ NGỘ – NÉT ĐẶC SẮC TRONG TRUYỆN TRUYỀN KỲ

2.1.1. Yếu tố kỳ ngộ trong văn xuôi trung đại

Trong tiếng Việt, “kỳ ngộ” được hiểu là sự gặp gỡ ngẫu nhiên, kỳ lạ, khác thường. Từ những cuộc gặp này sẽ mở đầu cho những mối quan hệ đặc biệt hoặc dẫn đến những sự kiện khác lạ, khó lường. Đối với văn xuôi trung đại nói chung, truyện truyền kỳ nói riêng, kỳ ngộ là một trong nhiều yếu tố nghệ thuật được dùng để chuyển tải nội dung. Cụ thể hơn, đó là những cuộc gặp gỡ giữa “người bình thường với thần tiên, hoặc ma quỷ hiện hình; cũng có khi là sự tiếp xúc giữa người với hồn ma, bóng quỷ hoặc những gì thuộc về cõi âm…diễn ra trong những cảnh huống éo le, đầy kịch tính” [26, tr245]. Các tác giả văn xuôi trung đại, nhất là những người sáng tác truyện truyền kỳ đã gởi gắm những nghĩ suy, quan niệm và cả những mơ ước của mình vào những lần tương phùng, kỳ ngộ. Chính vì thế mà yếu tố kỳ ngộ trong văn xuôi truyền thống, nhất là trong loại hình truyện truyền kỳ luôn chứa đựng một thông điệp, luôn mang một tinh thần lãng mạn và khát vọng nhân văn cao đẹp.

2.1.2. Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ

Môtip là thuật ngữ vay mượn tiếng nước ngoài (môtip, motiff), được sử dụng rất phổ biến ở Việt Nam khá sớm. Xuất phát từ một nhận thức chung trên cơ sở những định nghĩa về môtip của các học giả, có thể hiểu môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ là tình tiết gặp gỡ, tiếp xúc giữa người bình thường với thần tiên, ma quỷ vào những hoàn cảnh, điều kiện đặc biệt, mang đậm tính kỳ ảo – một đặc trưng của thể loại truyền kỳ. Tình tiết này được các tác giả truyền kỳ sử dụng nhiều nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Chính cái kỳ của những cuộc gặp gỡ đã mang đến sự hấp dẫn và đa dạng của môtip kỳ ngộ. Môtip kỳ ngộ đã giúp các tác giả tạo ra những tác phẩm mang ý nghĩa xã hội khác nhau. Nó được vận dụng để triển khai cốt truyện, xây dựng nhân vật, tạo ra những cõi không gian biến ảo, làm nên một thế giới mê hoặc kỳ lạ của thế giới truyền kỳ.

2.2. CÁC BIỂU HIỆN CỦA MÔTIP KỲ NGỘ

2.2.1. Kỳ ngộ thần tiên, dị nhân

Các nhân vật trong truyện truyền kỳ như Thần – Tiên – Bụt/ Phật vốn không phải người phàm trần. Họ là những đấng bậc tồn tại trong truyền thuyết, huyền thoại và được lưu truyền trong dân gian. Đó là Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử (trong Lĩnh Nam chích quái lục); hoặc những vị thần ngự nơi biển sâu, trấn nơi linh địa (Long đình đối tụng lục, Tản Viên từ Phán sự lục – Truyền kỳ mạn lục), cũng như các vị thần miếu, thần đền (Lôi thủ pha, Linh xà, Kỳ mộng – Lan Trì kiến văn lục).

Ngoài Thần, Tiên, Bụt/ Phật truyện truyền kỳ còn có rất nhiều cuộc kỳ ngộ mà đối tượng là các “dị nhân”, “danh nhân”. Họ là những người đặc biệt, có nhiều điểm dị thường, phi thường thuộc về thân thể, trí tuệ, hành vi. Điều này làm nên tính siêu phàm của dị nhân, danh nhân. Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cho rằng họ có “màu sắc siêu phàm của lý tưởng về thánh nhân”. Kiểu nhân vật danh nhân, dị nhân xuất hiện trong môtip kỳ ngộ chính là danh nhân văn hoá, các bậc cao tăng, ẩn sỹ, đạo sỹ. Trong các cuộc kỳ ngộ danh nhân, con người thường được luận bàn về nhân quả, đạo Trời, về lẽ xuất xử của kẻ sĩ, được báo trước tai ương.

Qua tất cả những sự kiện, tình tiết diễn ra trong những lần kỳ ngộ, chúng tôi nhận thấy trong mối quan hệ giữa con người và các đối tượng nhân vật trên, sự việc được diễn biến theo hướng hoà hợp, kết cục của những cuộc gặp gỡ đặc biệt này thường có hậu và mang đậm tính nhân văn. Nhìn lại diễn biến của dạng thức kỳ ngộ này, ta dễ dàng nhận ra ý nghĩa sâu xa của nó trong tâm thức cộng đồng. Gặp thần nhân, tiên nhân, danh nhân, con người sẽ được trợ giúp để hoàn thành nghiệp lớn, được thưởng thức cái Đẹp (thưởng nhạc, đàm đạo văn chương), cái Thiện (luận bàn đạo lý). Điều đó vừa để vinh danh các bậc đế vương và những bậc anh hào đáng kể trong thiên hạ, vừa thể hiện lòng tôn kính Thần Phật. Đồng thời, đó cũng là sự gắn kết, bằng một mối dây vô hình nào đó, giữa con người phàm tục với cõi linh thiêng thần thánh, để vĩnh cửu hoá một mối quan hệ tồn tại trong tâm thức, tâm linh, và trong mối quan hệ đó, con người luôn được chở che, phù trợ.

2.2.2. Kỳ ngộ yêu ma, thú linh – vật lạ

Ở môtip kỳ ngộ yêu nhân, ma quỷ, sự việc thường diễn biến theo hướng khá ổn định. Theo đó, lúc ban đầu con người gặp những tai vạ do bọn yêu nhân, ma quỷ gây ra. Nhưng về sau, nhờ thế lực siêu nhiên (thần, tiên, đạo nhân) giúp đỡ, hoặc do chính “đức năng thắng số”, con người thoát được tai ương. Tai vạ mà bọn yêu nhân ma quỷ gieo rắc cho con người thường hướng đến hai điều. Đó là: làm phương hại tính mạng và huỷ hoại nhân cách. Người vợ trong “Thử tinh truyện” vừa bị ma quỷ lợi dụng để hút hết sinh khí, thoả mãn dục vọng, vừa làm hại đến thanh danh của một người làm vợ, làm dâu. Con ma trong “Thụ yêu” thì muốn làm hại uy tín của người học trò cương nghị.

Trong nhóm truyện kỳ ngộ thú linh, vật lạ, diễn biến sự việc luôn theo hướng tương trợ cho con người. Đặc biệt, trong môtip kỳ ngộ thú linh, ở nhiều truyện kể về loài hổ rất thú vị, loài thú này lại trở nên hào hiệp, nhân nghĩa khác thường.

2.2.3. Kỳ ngộ tiên nữ, ma nương

Hình tượng nữ nhân ở đây rất đa dạng, thành phần gồm đủ kiểu loại, thang bậc khác nhau. Có người bình thường và cả tiên nữ, ma nữ. Ở đây, chúng tôi chú trọng vào nhân vật tiên nữ, ma nương bởi vì đây là một trong những nhân vật chính của các cuộc kỳ ngộ, tương phùng. Ở dạng thức kỳ ngộ này, con người gặp tiên nhân, ma nữ và tuyệt đại đa số là kết chuyện lứa đôi, như nhà nghiên cứu Nguyễn Phong Nam nhấn mạnh: “phổ biến hơn cả đối với môtip kỳ ngộ lại là những mối quan hệ đặc biệt dưới hình thức hôn nhân khác giống” [6, tr.246].

Dạng thức kỳ ngộ tiên nữ, ma nương dẫn đến hai hướng khác nhau là kỳ diệu và kỳ quái. Gặp tiên nữ thuộc kiểu kỳ duyên, kỳ diệu. Tựu trung lại, có thể khái quát diễn biến của kiểu dạng kỳ ngộ tiên nữ như sau: người trần kỳ ngộ tiên nữ, bước vào cuộc yêu đương, được kết duyên, được sống cuộc sống hạnh phúc ấm êm, được hưởng niềm vui của những con người trên dương thế, người trần được trợ giúp trong đường công danh hoặc trong cuộc sống. Về sau, tấm thân nhẹ nhàng chứ không chịu cảnh đau thương, đáng sợ.

Dạng thức người gặp ma nữ thuộc về tình duyên kỳ quái. Kiểu dạng kỳ ngộ ma nữ thường diễn biến theo cách thức sau: Người gặp ma nữ – bị ma dụ dỗ, mê hoặc – người và ma gắn bó trong cuộc yêu đương nồng thắm – người bị ma ám cho đến chết; ma bị tiêu trừ (nhưng người cũng không còn sống).

* Trong truyện truyền kỳ, môtip kỳ ngộ là một thủ pháp nghệ thuật được dùng rất phổ biến. Đó là những cuộc gặp gỡ giữa con người với thần tiên, hoặc ma quỷ được diễn ra trong những cảnh huống khác lạ, đầy kịch tính. Những cuộc gặp gỡ kỳ lạ này đã kết tinh thành mẫu hình, thành công thức được xuất hiện trong quá trình phát triển của văn học. Môtip kỳ ngộ là những đơn vị có tính ổn định, bền vững, thường xuyên lặp lại. Tính bền vững của môtip không chỉ được thể hiện ở mặt hình thức mà cả ở ý nghĩa biểu đạt.

Biểu hiện của môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam rất đa dạng. Đó có thể là tình tiết gặp gỡ, tiếp xúc giữa người bình thường với các bậc thần thánh, tiên Phật, cũng có thể là sự kết giao, tiếp xúc giữa người với ma qủy, yêu tinh, thú linh, vật lạ. Ý nghĩa các nhóm môtip kỳ ngộ cũng rất khác nhau. Những cuộc gặp gỡ giữa thế giới thần nhân, tiên nhân, danh nhân với người phàm là những câu chuyện “anh linh”, “nhân kiệt”, nhằm đề cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Vì vậy, đó là cuộc gặp gỡ với những tên tuổi đã trở nên bất tử, là tiếp xúc với những giá trị văn hoá tốt đẹp, góp phần hình thành nền văn hiến Việt. Môtip kỳ ngộ thú linh, vật lạ một mặt phản ánh khát vọng về sự bình an trong đời sống của con người, đồng thời thể hiện một quan niệm, nhận thức của người xưa về thế giới. Môtip duyên kỳ ngộ với những mối tình lãng mạn giữa người thường với tiên nữ chứa đựng một khát vọng vượt thoát và một triết lý sống; môtip kỳ ngộ ma nữ, yêu nữ lại chứa đựng những đúc kết, những bài học có tính chất giáo huấn sâu sắc. Nhìn chung các môtip này được các tác giả truyền kỳ sử dụng nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình. Chính cái kỳ của những cuộc gặp gỡ đã mang đến sự hấp dẫn và đa dạng của các câu chuyện, tạo nên một thế giới mê hoặc kỳ lạ của truyện truyền kỳ.

CHƯƠNG 3

VAI TRÒ CỦA MÔTIP KỲ NGỘ

TRONG TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM

3.1. MÔTIP KỲ NGỘ THỂ HIỆN TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT

3.1.1. Môtip kỳ ngộ với việc ngôn chí, ngôn hoài của kẻ sĩ

Dùng môtip kỳ ngộ, tác giả đã bày tỏ những suy tư, nhận thức của mình trước cuộc thế theo một phương cách đặc thù của loại hình. Nói cách khác, đây là một kiểu “ngôn chí” (bộc lộ chí hướng), “ngôn hoài” (giãi bày nỗi ưu tư của mình trước hiện thực cuộc đời) của các nhà Nho thời trung đại. Trong Truyền kỳ tân phả, khi nho sĩ họ Hà gặp liệt nữ Đinh phu nhân, chàng đã được nghe phu nhân giảng giải đạo lý. Thực chất đây là lời tỏ bày “chí” của tác giả: “vì rằng lòng mình có ngay ngắn thì mới cảm hoá được người ta, chính thân mình có tu dưỡng thì mới tề chỉnh được trong nhà” (Đoàn Thị Điểm, 2013, tr.89). Không chỉ giữ mình trước bạc tiền, kẻ sĩ còn phải giữ mình trước một điều không mấy ai làm được: sự quyến rũ của sắc dục. Chí của kẻ sĩ còn hướng đến con đường khoa cử, vì thế, trong những cuộc duyên kỳ ngộ, nam nhân luôn có được vợ (là tiên nữ) trợ giúp để được hanh thông trên con đường hoạn lộ.

Song song với việc chuyển tải quan niệm của kẻ sĩ về tư tưởng, đạo lý (ngôn chí) bằng cách sử dụng môtip kỳ ngộ, các tác giả truyền kỳ còn hé mở nỗi ưu thời mẫn thế của mình một cách kín đáo. Đó là nỗi lo lắng về nỗi “cương thường điên đảo”, “tốt xấu lẫn lộn” mà các tác giả đã nêu trong Thánh Tông di thảo. Nỗi quan hoài trước thời cuộc càng đau đáu hơn khi thực trạng nơi trần thế càng được phơi bày. Những cuộc kỳ ngộ trong các truyện của Nguyễn Dữ đã dựng lại bức tranh hiện thực đảo điên khiến kẻ sĩ “trông thấy mà đau đớn lòng”.

3.1.2. Những ước vọng nhân sinh qua môtip kỳ ngộ

Điều đầu tiên, môtip kỳ ngộ giúp con người hướng đến các chiều kích của thế giới tâm linh, tôn giáo. Ở các cuộc kỳ ngộ thần nhân, tiên nhân, con người được sống trong miền miên viễn của Tiên, Phật, Thánh, Thần. Bước vào thế giới tâm linh, con người được chứng kiến và được lí giải những quy luật khó nắm bắt ở cõi trần, đó là quy luật hiển linh, báo ứng, nhân quả, luân hồi.

Mượn môtip kỳ ngộ, con người còn mơ đến một thế giới khác vì muốn thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống nơi trần tục. Những cuộc gặp gỡ với thần nhân, tiên nhân hay kể cả ma quỷ nơi tiên cảnh hoặc dưới âm ty chẳng phải là mơ ước được khám phá chín tầng trời đất đó sao? Bằng duyên gặp gỡ, họ muốn được tạo ra khả năng biển đổi số phận của mình và khả năng vượt qua thử thách.

Thế nhưng, ước mong vượt thoát thông qua môtip kỳ ngộ của con người không chỉ dừng ở đấy. Họ còn mong muốn được nhìn nhận, được trân trọng, và được sống hết mình trong tình yêu đôi lứa. Mong ước này được bộc lộ rất rõ trong thế giới tâm hồn của người phụ nữ thông qua môtip kỳ ngộ tiên nữ, ma nương. Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm đã nói thay tiếng nói của người phụ nữ muốn được nhìn nhận, được trân trọng, được yêu đương trong những cuộc kỳ ngộ, tương phùng.

3.2. MÔTIP KỲ NGỘ TRÊN PHƯƠNG DIỆN TỔ CHỨC TÁC PHẨM

3.2.1. Vai trò của môtip kỳ ngộ trong việc xây dựng cốt truyện

Với vai trò là hạt nhân, môtip kỳ ngộ làm xuất hiện những cốt truyện mới theo những hướng và nội dung khác nhau. Môtip kỳ ngộ có khi được sử dụng để nói về tình, có khi nói về niềm mơ ước thầm kín của con người, lại có lúc nó được sử dụng để tạo sự huyễn hoặc nào đó, rồi có thể ngầm gởi một nỗi quan hoài nhân thế. Trong những câu chuyện kỳ ngộ kỳ duyên (tức kiểu dạng kỳ ngộ tiên nữ, ma nương), tính chất linh hoạt của môtip kỳ ngộ càng bộc lộ rõ. Cùng sử dụng môtip kỳ ngộ, nhưng nội dung mỗi truyện không giống nhau. Cách kể không sáo mòn, ngược lại, còn hấp dẫn, sống động.

Vai trò nổi bật khác của môtip kỳ ngộ đối với việc xây dựng cốt truyện trong truyện truyền kỳ chính là dẫn dắt, kết nối. Với vai trò dẫn dắt, môtip kỳ ngộ nối những sự kiện trước và tạo ra nguyên nhân xảy ra các sự kiện sau. Nó giống như chiếc cầu, nối liền sự kiện với sự kiện để tạo điều kiện cho những biến cố, tình huống xảy đến trong cuộc đời của các nhân vật. Trong đó, có khi kỳ ngộ dẫn đến kết truyện; có khi kỳ ngộ để dẫn đến sự kiện chính; lại có những cuộc kỳ ngộ nhằm tạo sự logic trong các tình tiết kỳ ngộ.

3.3.2. Vai trò của môtip kỳ ngộ đối với việc xây dựng nhân vật

Để xây dựng một cuộc kỳ ngộ, hai đối tượng trong lần gặp phải có một “mã” nhất định. Tương hợp cái “mã” đó, cuộc kỳ ngộ mới được diễn ra và mới tạo được những biến cố trong cuộc đời nhân vật. Ở kiểu dạng kỳ ngộ thần nhân, tiên nhân, dị nhân, danh nhân, ta thấy các nhân vật người phàm xuất hiện trong các cuộc kỳ ngộ với Thần, Thánh, Tiên, Phật là vua chúa, quan lại và nho sĩ. Đấy là những người có tư chất thông minh, không học vấn uyên thâm thì chí ít cũng phải nhân từ, đức độ.

Ở các cuộc gặp tiên nữ, ma nữ, tức là kỳ ngộ trong tình yêu, sẽ dẫn đến việc xây dựng nhân vật hầu hết là tài tử giai nhân. Nhân vật nam nhân, dù là quan lại hay nho sinh, thương lái, đều có chung một điểm, đó là họ mang cốt cách của kẻ đa tình và rất si tình. Còn các nhân vật nữ, dù là tiên nữ hay ma nương, hay oan hồn hoa cỏ, họ cũng đều là những giai nhân tuyệt sắc, và nhất là mang trong lòng niềm yêu đương say đắm.

3.2.3. Môtip kỳ ngộ trong việc xây dựng không gian, thời gian nghệ thuật

Cùng với khát vọng khám phá những chiều kích ngoài tầm với, môtip kỳ ngộ đã tạo dựng những “không gian phi quảng tính” thuộc chiều thứ tư nào đó mà con người không thể nắm bắt được. Trước hết là không gian trên cao của những ngọn núi và của thế giới nhà trời. Ngược chiều với không gian trên cao, môtip kỳ ngộ cũng mở ra không gian dưới thuỷ cung và âm phủ.

Không chỉ mở ra không gian “phi quảng tính”, môtip kỳ ngộ còn thể hiện rõ rệt vai trò của mình khi tạo ra một không gian đặc trưng của truyện truyền kỳ, đó là không gian “đệm”. Không gian “đệm” là nơi xảy ra những cuộc kỳ ngộ giữa người phàm với thần tiên, ma quỷ, thú linh… Nó là nơi gây ấn tượng tâm linh với người phàm và là nơi cư ngụ của thánh thần, nơi nương náu của những hồn ma vất vưởng. Đầu tiên là những khuôn viên, những khu vườn ma ám. Không gian “đệm” còn là đền miếu, chùa chiền, thắng tích, bến sông, cửa bể, gò đất, nấm mồ hoặc những cây cổ thụ như cây đa, cây đề.

Kiểu không gian thứ ba mà các tác giả xây dựng khi sử dụng môtip kỳ ngộ chính là không gian có sự pha lẫn giữa thực và ảo. Ở đây, sự đột nhập của cái huyền bí vào khuôn khổ của cuộc đời thực diễn ra ly kỳ, hấp dẫn. Hai không gian ảo và thực trong các truyện: “Trần nhân cư thủy phủ”, “Long đình đối tụng lục”, “Tản Viên từ phán sự lục”, “Nguyễn Quỳnh”,… bị nhòe mờ, tưởng như không có ranh giới.

Đi cùng “xu hướng thế tục” (từ dùng của Nguyễn Đăng Na), lấy con người làm trung tâm phản ánh, môtip kỳ ngộ còn tạo ra một kiểu không gian mà ở đó, cái thực làm nền, và tình tiết kỳ ảo do những cuộc gặp gỡ mang lại sẽ khiến cho không gian trở nên ma mị, huyễn hoặc. Kỳ ngộ thần tiên hoặc ma quỷ, nhưng lần này mọi diễn biến của sự kiện lại xảy ra giữa cuộc đời thực, trong không gian thực. Những cuộc kỳ ngộ trong “Lãng Bạc phùng tiên”, “Tây Viên kỳ ngộ ký”, “ Mộc miên thụ truyện”,…đã tạo nên kiểu không gian như thế.

Cùng với không gian, thời gian nghệ thuật là môi trường tồn tại của nhân vật. Lần theo câu chuyện mà những cuộc gặp gỡ ly kỳ tạo ra, ta thấy thời gian ở đây có hai dạng chính: thời gian thực tại nhuốm màu sắc kỳ ảo và thời gian có sự co giãn đan xen giữa cái thực và cái ảo. Kiểu thời gian thực tại nhuốm màu sắc kỳ ảo biểu hiện ở chỗ thời gian xảy ra những biến cố trong cuộc đời thực của người luôn có sự linh ứng với thời gian nơi thế giới ảo. Cùng với không gian, thời gian nghệ thuật là môi trường tồn tại của nhân vật. Lần theo câu chuyện mà những cuộc gặp gỡ ly kỳ tạo ra, ta thấy thời gian ở đây có hai dạng chính: thời gian thực tại nhuốm màu sắc kỳ ảovà thời gian có sự co giãn đan xen giữa cái thực và cái ảo.

Tương ứng với vùng không gian đệm, những tình tiết kỳ ngộ còn tạo nên một dạng thời gian mà ta gọi là thời khắc tâm linh. Thời khắc tâm linh là những thời điểm xảy ra những cuộc gặp gỡ lạ thường giữa con người với thần tiên, ma quỷ… Tại thời điểm đó, có một thế lực siêu nhiên xâm lấn, chi phối thế giới thực của con người. Và con người, với những năng lượng tinh thần bình thường vẫn có thể chạm đến các giới hạn, xâm nhập, trà trộn với thế giới thần linh ma quái. Đại đa số những cuộc gặp gỡ, dẫu với thần tiên hay giống yêu ma, đều xảy ra vào những thời khắc hiển linh như: chạng vạng, rạng đông, giữa trưa đứng bóng và nhất là lúc đêm khuya.

Giá trị nghệ thuật của môtip kỳ ngộ đã thể hiện khá rõ khi chúng ta tiến hành tìm hiểu trên cả hai mặt: mặt chuyển tải tư tưởng và mặt kiến tạo tác phẩm. Từ đó, ta có thể hiểu vì sao trải qua hàng thế kỷ, môtip kỳ ngộ vẫn được sử dụng và vẫn phát huy được giá trị của nó. Dĩ nhiên, điều này phần lớn là do tài năng của tác giả và nhu cầu thẩm mỹ của từng thời đại. Sang đến thời đại của thơ ca trung đại hoặc văn xuôi hiện đại, môtip kỳ ngộ đã có ít nhiều sự thay đổi. Điều đó là dễ hiểu, bởi môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ, như trên đã nói, không giống và không thể giống khi nó được tái sử dụng ở một thể loại văn học khác.

KẾT LUẬN

Truyện truyền kỳ là một loại hình văn xuôi độc đáo, phản ánh hiện thực qua cái kỳ lạ, là đặc thù tư duy của một giai đoạn lịch sử. Tính dung hợp của loại hình này được thể hiện rất rõ qua nhiều yếu tố. Xét về tính chất, ta có thể tìm thấy ở đây dấu tích của nhiều lĩnh vực đời sống (văn chương, lịch sử, tín ngưỡng, phong tục,..). “Một mặt, nó chứa đựng những giá trị văn hoá, tư tưởng đặc sắc của người Việt, mặt khác, một cách gián tiếp, nó khơi gợi về quá trình hình thành cái gọi là “Việt tính”, những thứ thuộc về tâm thức, tâm hồn người Việt” [Thầy, tr.29].

Đối với truyện truyền kỳ, môtip kỳ ngộ là một yếu tố nghệ thuật quan trọng được nhà văn dùng để chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm. Môtip kỳ ngộ là những khuôn mẫu mang tính nghệ thuật, những tình tiết thường xuyên được lặp lại với dụng ý của nhà văn. Nó được thể hiện bằng những cuộc gặp gỡ kỳ lạ, khác thường giữa người bình thường với thần tiên, hoặc ma quỷ hiện hình, là sự tiếp xúc trong những cảnh huống éo le, đầy kịch tính giữa người với hồn ma, bóng quỷ hoặc những gì thuộc về cõi âm…Những khuôn mẫu này đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và tạo nên sức hấp dẫn, nét độc đáo của truyện truyền kỳ.

Xét về phương diện hình thức, biểu hiện của môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam rất đa dạng, phong phú. Đó có thể là cuộc tiếp xúc giữa người bình thường với các bậc thần thánh, tiên Phật, hoặc là sự gặp gỡ ngẫu nhiên giữa người với ma quỷ, yêu tinh, thú linh, vật lạ. Nội dung, ý nghĩa của môtip kỳ ngộ cũng rất khác nhau. Môtip kỳ ngộ được sử dụng nhằm đề cao truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc. Nó còn là phương tiện, phương thức bộc lộ khát vọng, những ước mơ cháy bỏng của con người. Đó là một cách để cân bằng, bù đắp vào sự thiếu hụt trong đời sống trần thế bằng những điều mơ tưởng bay bổng, kỳ diệu.

Vai trò của môtip kỳ ngộ trong các truyện truyền kỳ khá đa dạng. Nhà văn dùng nó như một thứ “ngôn ngữ”, một “ký hiệu” để bộc lộ tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm. Qua đó tác giả bày tỏ những suy tư, nhận thức của mình trước cuộc thế theo một phương cách đặc thù của loại hình. Đây là một kiểu “ngôn chí”, “ngôn hoài” độc đáo của các nhà Nho thời trung đại.

Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ đảm nhận những chức năng nghệ thuật khác nhau, tuỳ theo phương pháp dựng truyện và dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Có khi nó đóng vai trò hạt nhân chủ đạo để hình thành nên cốt truyện, có khi nó tham dự vào việc dẫn dắt, kết nối các sự kiện tình huống trong tác phẩm. Môtip kỳ ngộ là một biểu hiện cụ thể của phương thức kỳ ảo, vì thế, nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành không gian và thời gian nghệ thuật đặc thù của loại hình. Chính cái kỳ của những cuộc gặp gỡ đã mang đến sự hấp dẫn và đa dạng của các câu chuyện, tạo nên một thế giới đầy sức mê hoặc, quyến rũ kỳ lạ của truyện truyền kỳ.

Môtip kỳ ngộ không chỉ là sản phẩm đặc hữu của truyện truyền kỳ. Nó hiện hữu rất nhiều trong văn xuôi trung đại, văn học truyền thống; nó còn được tiếp thu và tân tạo trong văn học hiện đại dưới hình thức “phỏng truyền kỳ” với những tên tuổi như Tchya Đái Đức Tuấn, Lan Khai, Thế Lữ, Nguyễn Tuân,… Trong văn học đương đại, môtip kỳ ngộ cũng là thủ pháp được nghiều nhà văn phát huy như Hồ Anh Thái, Hoà Vang, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Sơn Minh,… Nhưng cũng vì thế mà chúng tôi nhận thấy điều đáng tiếc khi Luận văn chưa chỉ ra được vai trò gạch nối của môtip kỳ ngộ trong lịch sử văn học dân tộc, giữa thời trung đại với thời hiện đại. Hi vọng điều này sẽ được thực hiện trong một bối cảnh khác.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KHOA HỌC XH&NV\NGUYEN THI THU THUY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *