Nghiên cứu chiết tách protein từ hạt cây chùm ngây và ứng dụng trong xử lý nước đục
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trên thế giới, dù cho có khoảng hai tỉ người trên thế giới tiếp cận được nguồn nước sạch từ 1990 đến 2010, nhưng qua đó vẫn có hơn 760 triệu người vẫn chưa tiếp cận được nguồn nước sạch hay đạt yêu cầu, trong đó hơn 6 triệu người chết vì bệnh tiêu chảy do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm.
Các nước phát triển phải trả giá cao để nhập khẩu các hóa chất như polyaluminium chloride và phèn nhôm. Và đó là nguyên nhân tại sao các nước phát triển đó cần các phương pháp với giá thành thấp đưa ra nhằm giảm thiểu chi phí bảo trì và đào tạo. Ngày nay, polyaluminium chloride và phèn nhôm được sử dụng rộng rãi trong việc xử lí nước trên thế giới. Polyaluminium chloride và phèn nhôm còn lẫn các tạp chất như epichlodine là chất gây ung thư. Hàm lượng nhôm được coi như là tác nhân chính trong việc gây ra ngộ độc trong lọc máu não. Ngoài ra, nhôm còn được xem là một trong các tác nhân gây nên bệnh Alzheimer (chứng suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi), làm giảm độ pH và làm giảm hiệu quả của sự keo tụ trong nước ở nhiệt độ thấp cũng như các vấn đề liên quan đến sự keo tụ, tạo bông
Do đó, gần đây các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến các chất keo tụ tự nhiên nguồn gốc thực vật như một giải pháp dần thay thế hoặc thay thế một phần các chất keo tụ nhân tạo. Trong số các vật liệu tự nhiên đã được thử nghiệm như gạo hay chitosan, hạt cây chùm ngây (Moringa oleifera) đã chứng tỏ là một trong các chất keo tụ ứng dụng trong xử lý nước có hiệu quả nhất. Từ những năm 80 của thế kỷ trước, chùm ngây đã được quan tâm nghiên cứu làm vật liệu xử lý nước ở các góc độ khác nhau: các hoạt chất có chức năng keo tụ chủ yếu nằm trong hạt cây ,các phần của cây đều không độc đối với người và động vật, một số yếu tố ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả keo tụ gồm độ đục của nước, nồng độ chùm ngây, gradient vận tốc khuấy trộn, thời gian khuấy trộn dịch chùm ngây vào nước…. Do vậy, nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng keo tụ của chùm ngây để cải thiện chất lượng một vài nguồn nước mặt khác nhau ở Việt Nam, trong đó việc quan tâm đến nguyên nhân làm trong nước ở hạt cây chùm ngây, hay cụ thể là hợp chất dầu được chiết từ hạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bài toán xử lí nước đục. Từ đó ta có thể hiểu sâu hơn về quá trình làm trong nước của hạt chùm ngây cũng như các tính chất tuyệt vời của nó. Vì thế, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu chiết tách protein từ hạt cây chùm ngây và ứng dụng trong xử lý nước đục” nhằm giải quyết những vấn đề đã được nêu ra như ở trên.
Nghiên cứu quy trình chiết tách protein từ hạt cây chùm ngây, ứng dụng nó trong việc xử lí nước đục.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng: hạt chùm ngây
– Phạm vi nghiên cứu:
- Xác định hàm lượng tro, độ ẩm của hạt chùm ngây
- Tối ưu hóa quá trình chiết soxhlet của hạt chùm ngây
- Chuẩn bị các mẫu nước tự nhiên
- Thử hoạt tính làm trong nước từ protein được chiết
- Kết tủa protein và ứng dụng làm trong nước
4.1. Nghiên cứu lý thuyết
Tổng quan tài liệu, tìm hiểu thực tế về cây chùm ngây.
4.2. Nghiên cứu thực nghiệm
Phương pháp vật lý
– Thu gom, phân loại và xử lý mẫu hạt chùm ngây.
– Xác định độ ẩm của hạt
– Xác định hàm lượng tro và hàm lượng kim loại.
Phương pháp hóa học
– Phương pháp soxhlet hay chưng ninh chiết tách protein trong hạt chùm ngây.
– Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tách chiết: Nồng độ dung môi, thời gian chiết, tỷ lệ rắn/lỏng, nhiệt độ…
– Xác định các thông số từ các mẫu nước đục: độ đục (NTU), độ pH, …
– Xác định các thông số sau khi xử lý nước đục tự nhiên và nhân tạo bằng protein được tách từ hạt chùm ngây.
5.1. Nghiên cứu lý thuyết
– Cây chùm ngây: Mô tả, đặc điểm sinh thái.
– Phương pháp chiết tách: chiết tách soxhlet với dung môi thích hợp.
– Phương pháp kết tủa protein
– Phương pháp xác định các thông số từ các mẫu nước đục: độ đục (NTU), độ pH
5.2. Nghiên cứu thực nghiệm
– Xử lý mẫu: Thu thập, phân loại, rửa, sấy…
– Chiết tách protein bởi dung môi phù hợp
– Xây dựng quy trình chiết tách đạt hiệu suất cao nhất.
– Chuẩn bị các mẫu nước đục tự nhiên và nhân tạo, xác định các thông số của từng mẫu nước.
– Tiến hành quy trình xử lí nước đục bằng protein từ hạt chùm ngây
– Kiểm tra, xác định thông số sau khi xử lý, từ đó đưa ra nhận xét.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
– Cung cấp thông tin khoa học về quy trình tách chiết protein từ hạt chùm ngây, nghiên cứu các điều kiện tối ưu.
– Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế lọc nước đục từ hạt chùm ngây.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÙM NGÂY
1.1.1. Tên gọi
Tên khoa học: Moringa oleifera Lam, hay M. Pterygosperma, thuộc họ Chùm ngây (Moringaceae).
1.1.2. Phân loại khoa học
Giới Thực vật (Kingdom) : Plantae
Ngành Ngọc lan (Division) : Magnoliophyta
Lớp Ngọc lan (Class) : Magnoliopsida
Bộ Cải (Ordo) : Brassicales
Họ Chùm ngây (Familia) : Moringaceae
Chi (Genus) : Moringa
Loài (Species) : Moringa oleifera Lam.
1.1.3. Đặc điểm thực vật
1.1.4. Phân bố sinh thái
1.1.5. Cách trồng
1.1.6. Sơ lược về thành phần hóa học của cây chùm ngây
1.1.7. Thành phần dinh dưỡng
1.1.8. So sánh hàm lượng dinh dưỡng với các thực phẩm khác
1.1.9. Những nghiên cứu khoa học về chùm ngây
1.1.10. Công dụng
1.2. NƯỚC VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
1.2.1. Tính chất chung của nước
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước
1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC
1.3.1. Phương pháp cơ học
1.3.2. Phương pháp hóa học và hóa lý
1.3.3. Phương pháp vật lý
1.3.4. Quá trình keo
1.3.5. Quá trình lọc nước
1.4. Ô NHIỄM NƯỚC VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ BẰNG HẠT CHÙM NGÂY
1.4.1. Nguyễn nhân gây ô nhiễm nước
1.4.2. Xử lý nước bằng hạt chùm ngây
1.4.3. Protein keo tụ từ chùm ngây
1.5. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PROTEIN
1.5.1. Những đặc trưng chung của nhóm chất protein
1.5.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nhóm chất protein
1.5.3. Phân loại protein
1.5.4. Chức năng sinh học của protein
a. Xúc tác và enzyme
b. Những khác biệt về đặc tính xúc tác, giữa xúc tác vô cơ và xúc tác enzyme
c. Cơ chế xúc tác của một vài enzyme
1.6. PHƯƠNG PHÁP CHIẾT RẮN – LỎNG
1.6.1. Kỹ thuật chiết soxhlet
1.7. CÁC PHƯƠNG PHÁP THU NHẬN PROTEIN
1.7.1. Nhiệt độ
1.7.2. Nồng độ H+ (pH)
1.7.3. Tác nhân hóa học
1.8. PHÁ VỠ TẾ BÀO VÀ CHIẾT RÚT PROTEIN
1.8.1. Phá vỡ tế bào
1.8.2. Chiết rút protein
1.9. ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ TINH SẠCH CỦA CHẾ PHẨM PROTEIN
1.9.1. Các phương pháp xác định hàm lượng protein
1.9.2. Đánh giá tính đồng thể của protein
1.10. CÁC QUÁ TRÌNH TÁCH CHIẾT VÀ TINH SẠCH PROTEIN
1.10.1. Thu hồi protein
1.10.2. Tinh sạch sơ bộ
1.10.3. Hệ phân tách hai pha nước
1.10.4. Các phương pháp kết tủa
a. Các phương pháp sắc ký
b. Siêu lọc
c. Thiết kế các protein để tinh sạch
CHƯƠNG 2
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. NGUYÊN LIỆU, DỤNG CỤ, HÓA CHẤT
2.1.1. Thu gom và xử lý nguyên liệu
Hạt chùm ngây dùng làm nguyên liệu được lấy từ Đăk Lăk, Việt Nam.

Hình 2.1. Chùm ngây
2.1.2. Dụng cụ
2.1.3. Hóa chất
2.2. XÁC ĐỊNH ĐỘ ẨM
2.3. XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG TRO
2.4. QUÁ TRÌNH CHIẾT SOXHLET TỪ HẠT CHÙM NGÂY
2.4.1. Tách dầu từ hạt chùm ngây
2.4.2. Tách protein từ bã đã tách dầu
a. Ảnh hưởng của tỉ lệ bã trên thể tích nước
b. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiết tách
c. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NaCl đến khả năng chiết tách protein từ bã cây chùm ngây
d. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng chiết tách protein từ bã cây chùm ngây
2.5. QUY TRÌNH ĐIỀU CHẾ PROTEIN DẠNG BỘT
2.5.1. Kết tủa protein
2.5.2. Tách kết tủa protein khỏi dung dịch
2.5.3. Tạo protein dạng bột
2.6. XỬ LÝ NƯỚC NGHIÊN CỨU
2.6.1. Mẫu nước nghiên cứu
2.6.2. Dịch chiết protein từ hạt chùm ngây trong NaCl
a. Ảnh hưởng của tỉ lệ dịch chiết với nước đục với khả năng lọc nước
b. Ảnh hưởng của pH lên quá trình xử lí nước đục
2.6.3. Ứng dụng bột protein sau khi li tâm vào xử lí nước đục
a. Ảnh hưởng của khối lượng protein ở dạng bột lên quá trình xử lí nước đục
b. Ảnh hưởng của môi trường pH đến khả năng xử lí nước đục của protein dạng bột
2.7. SO SÁNH MỐI LIÊN HỆ XỬ LÝ NƯỚC ĐỤC CỦA PROTEIN TRONG DỊCH CHIẾT NaCl VỚI BỘT PROTEIN SAU KHI LI TÂM VỚI ẢNH HƯỞNG THEO TỈ LỆ TRONG NƯỚC
2.8. SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA PH ĐẾN KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC ĐỤC CỦA DỊCH CHIẾT NaCl VÀ PROTEIN DẠNG BỘT
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ HÓA LÝ
3.1.1. Độ ẩm
Độ ẩm trung bình là 7,47%. Độ ẩm thay đổi tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi chùm ngây sinh trưởng và mùa hái. Với độ ẩm này, chúng ta có thể giữ được chất lượng tốt của nguyên liệu trong quá trình bảo quản tránh sự xâm hại của vi sinh vật và nấm mốc, nguyên liệu có độ ổn định tốt.
3.1.2. Hàm lượng tro
Hàm lượng tro trung bình là 4.23%. Đây chính là hàm lượng các chất vô cơ không bay hơi tồn tại trong hạt chùm ngây. Do điều kiện thổ nhưỡng ở những vùng khác nhau nên nguyên liệu sẽ có các thành vô cơ khác nhau.
3.2. TÁCH PROTEIN TỪ BÃ ĐÃ TÁCH DẦU
3.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng tỉ lệ bã/ thể tích nước
Hình 3.1. Ảnh hưởng tỉ lệ bã/ thể tích nước đến khả năng chiết tách protein từ chùm ngây
- Kết luận:
Hiệu suất chiết tách protein từ bã hạt chùm ngây tăng đều từ 1g/100ml đến tỉ lệ bã/ thế tích nước 3g/100ml (từ 33,24% đến 37,70%) thì giảm xuống đều đặn khi tỉ lệ bã/ thể tich nước tăng từ 3g/100ml đến 5g/100ml (từ 37,70% đến 30,50%). Như vậy, từ kết quả trên ta xác định được tỉ lệ chiết tách protein tốt nhất là khi tỉ lệ bã/ thể tích nước đạt 3g/ 100ml. Ứng dụng tỉ lệ bã / thể tích nước ở phần này vào trong các nghiên cứu ảnh hưởng ở các phần sau.
3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiết tách
Hình 3.2. Ảnh hưởng của thời gian đến khả năng chiết tách protein từ chùm ngây
- Kết luận:
Hiệu suất chiết tách protein từ bã hạt chùm ngây tăng đều (từ 32,90% ? 46,53%) theo chiều tăng dần của thời gian (từ 30 phút ? 180 phút). Sau đó giảm nhẹ từ 46,53% ? 45,26% (từ 180 phút ? 210 phút). Từ đó, thời gian càng tăng thì khả năng chiết tách protein trong nước càng nhiều hơn. Và tại 180 phút thì hiệu suất tách là tốt nhất. Như vậy, ta sẽ lấy thời gian là 180 phút làm thời gian chiết tách protein tối ưu.
3.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NaCl đến khả năng chiết tách protein từ bã chùm ngây
Hình 3.3. Ảnh hưởng của nồng độ NaCl đến khả năng chiết tách protein từ chùm ngây
- Kết luận:
Hiệu suất chiết tách protein từ bã hạt chùm ngây tăng đều (từ 46,53% ? 64,53%) theo chiều tăng dần của nồng độ NaCl (từ 0,0 M ? 0,6M). Tuy nhiên, hiệu suất lại giảm đều sau đó (từ 64,53% ? 49,30%) ứng với nồng độ NaCl (từ 0,6M ? 1,0 M). Điều này được giải thích là do khi chiết tách protein thì các điều kiện môi trường thay đổi dẫn đến protein bị kết tủa. Độ hòa tan của protein phụ thuộc vào vào sự tương tác có cực của protein với dung môi, sự tương tác ion của phân tử protein với các phân tử muối hiện diện trong dung dịch và sự tương tác tĩnh điện giữa phân tử mang điện tích hay những nhóm phân tử mang điện tích của protein kết dính lại với nhau. Quá trình kết tủa protein bằng dung dịch muối có nồng độ cao phụ thuộc rất lớn vào tính kỵ nước của phân tử protein. Trong dung dịch, các gốc kỵ nước của phân tử protein tập trung trên bề mặt, tiếp xúc trực tiếp với các phân tử nước. Các phân tử nước này ngăn cản quá trình hình thành liên kết để tạo kết tủa giữa các protein như nhau. Khi nồng độ muối tăng, các phân tử muối bị solvat hóa làm giảm số phân tử nước xung quanh bề mặt các phân tử protein tạo điều kiện cho các bề mặt kỵ nước tiến đến gần nhau và kết tủa xuống. Tuy nhiên, khi vượt qua ngưỡng nồng độ muối cho sự kết tủa protein xảy ra tốt nhất thì sự kết tủa protein sẽ không còn đạt hiệu suất cao nữa.
3.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng chiết tách protein từ bã chùm ngây
Hình 3.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng chiết tách protein từ bã chùm ngây.
- Kết luận:
Hiệu suất chiết tách protein từ bã hạt chùm ngây giảm mạnh (từ 64,53% còn 37,17%) theo chiều tăng dần của nhiệt độ (từ 30oC (nhiệt độ phòng) đến 70oC). Điều này có thể được giải thích là do để tách các protein khác nhau dựa trên kết tủa của chúng, người ta có thể sử dụng phương pháp biến tính chọn lọc nhờ tác dụng của nhiệt. Dịch protein được giữ ở 50oC – 70oC trong thời gian xác định. Tuy nhiên, để thu nhận chế phẩm protein theo phương pháp kết tủa thuận nghịch bằng các muối trung tính, cần tiến hành ở nhiệt độ thấp, đối với dung môi hữu cơ cần tiến hành ở nhiệt độ dưới 0oC tránh biến tính protein.
3.3. ỨNG DỤNG PROTEIN CHIẾT TÁCH TỪ HẠT CHÙM NGÂY TRONG XỬ LÝ NƯỚC ĐỤC
3.3.1. Dịch chiết protein từ hạt chùm ngây trong NaCl
a. Ảnh hưởng của tỉ lệ dịch chiết protein trong NaCl/ nước đục đến khả năng làm trong nước
Hình 3.5. Ảnh hưởng của tỉ lệ dịch chiết protein trong NaCl đến xử lý nước đục
- Kết luận:
Dựa vào bảng số liệu kết quả trên, thấy được hiệu suất lọc nước của dịch chiết protein trong dung dịch NaCl tăng nhẹ từ 52,75% đến 54,83% ( ứng với tỉ lệ 1 : 60 → 1:80) sau đó giảm đều từ 54,83% xuống còn 42,25% (ứng với tỉ lệ 1 : 80 → 1 : 140). Điều này được lý giải là do lúc đầu tỉ lệ dịch chiết trong nước đục lớn nên khi lọc nước thì hàm lượng protein dư phân bố trong nước đục gây nên hiện tượng đục nước (1 : 60), sau đó khi đến tỉ lệ 1 : 80 thì hiệu suất lọc nước ổn định tăng nhưng sau đó lại giảm đều khi giảm dịch chiết hòa tan trong nước đục là vì nồng độ protein quá ít nên hiệu quả lọc nước càng lúc càng giảm theo. Như vậy, hiệu quả lọc nước tốt nhất ứng với tỉ lệ dịch chiết / nước đục là 1:80.
b. Ảnh hưởng của pH trong nước đục đến khả năng làm trong nước từ dịch chiết protein trong NaCl
Hình 3.6. Ảnh hưởng của pH đến xử lý nước đục của dịch chiết protein trong NaCl.
- Kết luận:
Dựa vào bảng số liệu kết quả trên, thấy được hiệu suất lọc nước của dịch chiết protein trong dung dịch NaCl tăng mạnh từ 40,92% đến 59,08% ( ứng với pH 6 → 8) sau đó giảm nhẹ từ 59,08% xuống còn 54,05% (ứng với pH 8 → 10). Điều này được lý giải là do protein hoạt động mạnh trong môi trường pH khoảng 6 → 8. Nếu trong môi trường kiềm hóa thì khả năng lọc nước giảm mạnh do sự biến tính protein bị gây ra do tác nhân môi trường pH.
3.4. QUI TRÌNH ĐIỀU CHẾ PROTEIN DẠNG BỘT
3.4.1. Kết tủa protein
3.4.2. Tách kết tủa protein khỏi dung dịch
3.4.3. Tạo protein dạng bột
3.4.4. Ứng dụng bột protein vào quá trình xử lí nước đục
a. Nghiên cứu ảnh hưởng của bột protein chùm ngây đến khả năng lọc nước
Hình 3.7. Ảnh hưởng tỉ lệ khối lượng bột protein chùm ngây sau khi li tâm đến việc xử lí nước đục.
- Kết luận:
Dựa vào bảng số liệu kết quả trên, thấy được hiệu suất lọc nước của protein tăng đều từ 55,25% đến 64,77% ( ứng với khối lượng protein từ 0,01 đến 0,04g) sau đó giảm nhẹ từ 64,77% xuống còn 60,20% (ứng với khối lượng protein từ 0,04 đến 0,05g). Điều này được lý giải là do protein sau khi đã tách hoàn toàn và khi cho vào nước đục để xử lí thì theo tỉ lệ nhất định (đã nghiên cứu từ các bản nghiên cứu sơ bộ của các đề tài đã hoàn thành trước đó) tạo quá trình keo tụ rất tốt, xử lí được độ đục của nước cũng như màu của nước (trước đó có màu vàng nâu), tuy nhiên ở khối lượng protein cho vào 0,05g trong 200ml nước đục thì nhận thấy khi đo độ đục lại giảm đi. Có thể giải thích rằng khối lượng protein tham gia xử lí nước lớn hơn mức cần nên hàm lượng còn lại sẽ làm đục gây nên hiệu suất xử lí nước giảm sau đó.
b. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH nước dục đến quá trình xử lí nước đục của bột protein
Hình 3.8. Ảnh hưởng của pH đến xử lý nước đục từ bột protein chùm ngây sau khi li tâm.
- Kết luận:
Dựa vào bảng số liệu kết quả trên, thấy được hiệu suất lọc nước của protein giảm nhẹ từ 71,50% đến 64,77% ( ứng với pH 6 → 9) sau đó giảm mạnh từ 64,77% xuống còn 45,03% (ứng với pH 9 → 10). Điều này được lý giải là do protein hoạt động mạnh trong môi trường pH khoảng 6 → 8. Nếu trong môi trường kiềm quá thì khả năng lọc nước giảm mạnh do sự biến tính protein bị gây ra do tác nhân môi trường pH. Khi protein bị biến tính thì khả năng lọc nước bị suy giảm hay không còn nữa.
3.5. SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA PH ĐẾN KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC ĐỤC CỦA DỊCH CHIẾT NaCl VÀ PROTEIN DẠNG BỘT
Hình 3.9. So sánh hiệu suất xử lý nước giữa dịch chiết protein trong NaCl và bột protein với từng môi trường pH khác nhau.
Nhận xét: Dựa vào đồ thị nhận thấy hiệu quả xử lý nước đục đều đạt hiệu suất cao ứng với pH từ 6 → 8, trong khi hiệu suất xử lí nước của protein trong dịch chiết NaCl có xu hướng tăng đến pH = 8 thì giảm nhẹ thì hiệu suất xử lí nước của bột protein lại có xu hướng giảm nhẹ đều theo chiều pH tăng và hiệu quả xử lý của bột protein sau khi li tâm tốt hơn nhiều so với dịch chiết protein trong NaCl. Điều này có thể được lí giải do hàm lượng protein trong NaCl ít hơn hay độ tập trung phần từ protein không tốt như bột protein và do sự biến tính protein được gây ra do môi trường pH không còn thuận lợi nữa.
3.6. SO SÁNH MỐI LIÊN HỆ XỬ LÝ NƯỚC ĐỤC CỦA PROTEIN TRONG DỊCH CHIẾT NaCl VỚI BỘT PROTEIN SAU KHI LI TÂM VỚI ẢNH HƯỞNG THEO TỈ LỆ TRONG NƯỚC
Hình 3.10. So sánh hiệu suất xử lý nước giữa dịch chiết protein trong NaCl và bột protein với từng tỉ lệ dịch chiết khác nhau.
Nhận xét: Dựa vào đồ thị ta nhận xét thấy, khả năng lọc nước của bột protein tốt hơn so với dịch chiết protein trong NaCl, điều này cũng có thể được giải thích là do mật độ hay hàm lượng protein sau khi được li tâm tốt hơn so với protein được chiết tách trong dung dịch NaCl. Và tại giá trị hiệu suất lọc nước tốt nhất thì bột protein xử lí tốt hơn với hiệu suất 64,77% trong khi hiệu suất lọc nước của dịch chiết protein trong NaCl đạt được chỉ là 54,83%.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
A. KẾT LUẬN
Qua luận văn này chúng tôi đã thu được những kết quả sau:
1. Xác định được độ ẩm cũng như hàm lượng tro của hạt chùm ngây.
2. Xác định được các yếu tố tối ưu của quá trình chiết tách protein trong dung dịch NaCl thông qua các yếu tố khảo sát như:
- Tỉ lệ bã/ thể tích nước đạt tốt nhất là 3g/100ml.
- Thời gian chiết protein tốt nhất tại 180 phút.
- Nồng độ NaCl tốt nhất là 0,6M.
- Nhiệt độ tốt nhất là 30oC.
3. Xác định khả năng xử lí nước đục từ dịch chiết protein trong NaCl sau khi đã xác định các yếu tố tối ưu ở trên:
- Tỉ lệ dịch chiết / nước đục đạt hiệu suất xử lí tốt nhất ứng với tỉ lệ 1 : 80 (H = 59,08%).
- Ảnh hưởng của pH nước đục đến khả năng xử lí nước của dịch chiết tốt nhất ứng với pH = 8 (H = 54,83%).
4. Xác định khả năng xử lí nước đục bột protein chùm ngây:
- Tỉ lệ khối lượng / nước đục đạt hiệu suất xử lí tốt nhất ứng với tỉ lệ 0,04g / 200ml nước đục (H = 64,77%).
- Ảnh hưởng của pH nước đục đến khả năng xử lí nước của dịch chiết tốt nhất ứng với pH = 6 (H = 71,50%).
B. KIẾN NGHỊ
Cần những nghiên cứu tiếp theo để đánh giá đầy đủ và chính xác trong quá trình xử lí nước đục từ protein hạt chùm ngây.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\HOA HUU CO\NGUYEN VAN TAI


